Showing posts with label around us. Show all posts
Showing posts with label around us. Show all posts

Sunday, October 18, 2009

Người thứ ba

Tôi là người thứ ba hạnh phúc

Chào chị Ngọc và các anh chị!

Tôi cũng là độc giả thường xuyên của mục Tâm sự, sau mỗi ngày làm việc tôi thường đọc các tâm sự của các anh các chị và thực sự, tâm sự của mỗi người giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều trong cuộc sống và luôn tìm ra hướng giải quyết tối nhất cho tình huống của mình.

Hôm nay, mặc dù rất bận nhưng tôi xin được chia sẻ câu chuyện của mình. Tôi không muốn khuyên ai làm theo cách của tôi, nhưng tôi cũng hy vọng nó giúp cho ai đó quan tâm có quyết định sáng suốt trong tình huống mà tôi từng giống như vậy, làm người thứ ba.

Tôi quen chồng tôi cách đây 8 năm, khi đó anh có một gia đình, 2 đứa con và hơn tôi 15 tuổi. Còn tôi ra trường được 2 năm và trong thời điểm gặp chồng tôi, tôi đang gặp một cú sốc trong sự nghiệp. Tại thời điểm đó, khi tôi đang dành cho mình một vài ngày nghỉ ngơi để tìm cho mình cách giải quyết khó khăn của bản thân thì vô tình gặp anh ấy. Lúc đầu chúng tôi chỉ nói chuyện qua loa, câu chuyện cứ thế tiếp diễn, anh và tôi trao đổi số điện thoại cho nhau vì công việc kinh doanh của anh liên quan đến nghề nghiệp của tôi.

Nhận xét của tôi về anh là anh là người rất nghiêm túc và đứng đắn, tôi hầu như không đề phòng gì, anh cũng nói cho tôi nghe đôi chút về hoàn cảnh gia đình và tuyệt nhiên không nói xấu vợ. Tôi cũng không bao giờ nghĩ là tôi và anh sẽ yêu nhau, quan hệ giữa chúng tôi hoàn toàn trong sáng cho đến khi tôi chợt nhận ra mọi việc không như tôi vẫn nghĩ khi tôi thấy anh quan tâm đến tôi quá nhiều (tất nhiên bằng lời nói và một vài hành động cụ thể).

Lúc này, tôi gặp anh và nói thẳng cảm nhận của tôi đối với anh và đề nghị chúng tôi không liên lạc với nhau nữa. Lúc đó anh đã kể cho tôi nghe quá trình anh và vợ anh cưới nhau, những khoảng thời gian nào êm đềm, những khoảng thời gian nào xảy ra những cú sốc và sóng gió trong cuộc sống, sự phai nhạt tình yêu theo năm tháng và sống với nhau chỉ vì trách nhiệm với con cái, và hiện tại đã một thời gian rất dài giữa họ không có quan hệ vợ chồng. Cuộc sống gia đình bình thường nhưng mọi cuộc nói chuyện giữa anh và vợ khi đó chỉ xoay quanh việc học hành của con cái…

Anh rất thương vợ nhưng không còn tình yêu và anh nói anh cần tôi như một người bạn tâm giao, một người chia sẻ với anh (theo tôi hiểu thì có nghĩa là đi bên lề cuộc đời của anh). Khi đó, tôi đã khuyên anh nên tìm đến một người phụ nữ khác, một người có hoàn cảnh giống anh và cần anh trong vai trò như anh đang đề nghị với tôi. Tôi nói có như vậy anh mới giữ được gia đình của mình. Còn với tôi, tôi còn trẻ, tôi có mục đích sống rất rõ ràng, tuy đang gặp khó khăn nhưng chắc chắn tôi sẽ vượt qua được. Tôi cần có một gia đình cho riêng mình, bố mẹ tôi cũng cần tôi như vậy. Và tôi đã nói, nếu tôi đến với anh thì anh phải ly hôn với vợ, còn không thì thôi.

Có thể có nhiều người sẽ cho rằng tôi thật lạnh lùng và độc ác, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ đàn ông và phụ nữ là bình đẳng, mỗi người chỉ nên có một người yêu tại một thời điểm nào đó. Khi tình yêu đã hết, nếu cảm thấy không chung thủy được với nhau thì hãy ly hôn. Cách hành động của tôi là không đồng lõa với đàn ông khi họ lừa dối vợ con họ và cũng không để họ quá tham lam khi chỉ muốn thêm và không muốn bớt.

Tại thời điểm đó, anh nói hãy cho anh thời gian. Lúc này, công việc kinh doanh của anh gặp rất nhiều khó khăn trở ngại (nếu không muốn nói là đang trên bờ vực của sự phá sản), anh cần tôi giúp đỡ một phần công việc của mình. Tôi đã làm việc đó hết sức trách nhiệm, tôi thay anh xử lý nhiều việc trong đó có một việc là sa thải nhiều công nhân, nhân viên thiếu trách nhiệm, lười lao động và hay đòi hỏi, phần lớn họ là cháu của anh. Tôi đã tranh cãi và phân tích với anh rất nhiều lần về vấn đề này trước khi ra được quyết định bởi vì tính anh vốn thương người và điều đó là không tốt cho công việc.

Sau việc này, mọi chuyện đến tai vợ anh và chị ấy đến gặp tôi. Chị ấy nói bóng gió về việc quan hệ giữa tôi và anh, nhưng quả thật tại thời điểm đó tuy tôi cũng có tình cảm với anh, nhưng quan hệ giữa chúng tôi hoàn toàn trong sáng. Tôi đã nói với chị ấy rằng chuyện tình cảm giữa anh và chị chỉ có chị và anh là người hiểu rõ nhất, mong rằng hai người cùng nhau ngồi lại bàn bạc và phân tích để tìm ra biện pháp giải quyết. Còn tôi không giúp gì được trong việc này. Tôi cũng giải thích với chị ấy về việc tại sao công ty sa thải đám cháu của họ.

Hai ngày sau có người gọi điện cho tôi, đó là cháu dâu của họ. Chị ta chửi tôi thậm tệ và nói rằng vì chồng của chị ta phát hiện ra mối quan hệ không bình thường giữa tôi và anh ấy nên tôi đã tìm cách sa thải anh ta ra khỏi công ty, còn nói rằng tôi đừng tranh cướp chồng của người khác.

Thực sự là tôi chưa bao giờ có ý cướp chồng của ai cả, tôi đã nói với anh ấy về vấn đề này và cũng nói với anh về việc nên giải quyết chuyện riêng của mình, đừng để nó ảnh hưởng đến tôi và công việc của tôi. Tôi cũng nói thẳng rằng anh ấy không phải là một món đồ để ai đó tranh cướp, anh cũng không phải là đối tượng để tôi phải giành giật tranh cướp với ai đó.

Hết thời hạn anh ấy nói tôi chờ đợi (đó là 1 năm), tôi nói chuyện rất nghiêm túc với anh và quyết định ra đi. Tôi cũng hiểu rằng một gia đình với hơn 10 năm xây dựng dù không mấy hạnh phúc cũng không dễ dàng tan vỡ được. Tôi nói chuyện với anh một cách rất tỉnh táo và vui vẻ, tôi vốn là người biết kiềm chế mọi cảm xúc của mình.

Lúc đó anh ấy tỏ ra rất căng thẳng, anh nói không thể sống thiếu tôi được nhưng quả thật để ly hôn với chị ấy là điều rất khó khăn vì anh thực sự thương chị. Chị ấy không làm gì cả và mọi sinh hoạt, kinh tế phụ thuộc vào anh. Anh lại đề nghị cho thêm thời gian, và lần này là 6 tháng, để anh ấy có thể tạo lập được cho chị một công việc trước khi ly hôn.

Không phải tôi hoàn toàn tin anh ấy vì có lẽ tôi cũng không ngây thơ như vậy, nhưng tôi thực sự cảm nhận thấy sự chân thành trong lời nói của anh. Thời gian 6 tháng cũng không nhiều, và hơn nữa sau những cố gắng của tôi, công ty vẫn chưa khá lên được, nó vẫn đang trượt dốc, nó đã vượt quá tầm kiểm soát của chúng tôi, tôi cũng không đành lòng bước đi để anh ấy một mình trong tình trạng như vậy. Nhưng tôi bắt đầu ra điều kiện với anh và anh đồng ý với mọi điều kiện của tôi.

6 tháng trôi qua, mọi việc vẫn giậm chân tại chỗ, tôi vẫn tiếp tục ở bên cạnh anh ấy, động viên và giúp đỡ anh trong công việc, nhưng đồng thời tôi cũng bắt đầu xây dựng sự nghiệp của mình ở nơi khác. Tôi nghĩ, cái gì là của mình tự nhiên sẽ là của mình, cái gì không phải của mình thì cũng sẽ ra đi dù nó ở trong tay mình. Bởi vậy tôi không cảm thấy buồn chán hay mệt mỏi nhiều sau chuyện này. Mọi thứ không thực hiện được trong cuộc sống sau khi mình đã cố gắng tôi đều nghĩ đó là tại vì duyên và vì số.

Đó cũng là lý do mặc dù cũng rất thương vợ anh ấy nhưng tôi không mù quáng đến mức như một vài chị em chấp nhận đi bên lề cuộc đời của người đàn ông mình yêu để họ giữ được gia đình, hành động đó theo tôi là tự làm khổ mình. Tôi vẫn nói với anh tôi có thể hy sinh mạng sống vì người khác, nhưng không thể hy sinh hạnh phúc và danh dự gia đình vì người khác được.

Tôi không thể vì thương chị ấy và bọn trẻ mà chấp nhận đi bên lề đời anh để cả 3 cùng đau khổ được. Anh chỉ có thể chọn chị ấy hoặc tôi. Nếu giữa hai người không còn hạnh phúc thì nên ly hôn và có trách nhiệm với con cái, còn nếu hai người vẫn có thể níu kéo được thì tôi sẽ ra đi và chúc phúc cho họ. Trong trường hợp đó tôi mong anh cũng đừng quan hệ lăng nhăng với người khác để chị ấy phải khổ.

Cuối cùng, sau nhiều tháng ngày nỗ lực, chúng tôi đành hy sinh công ty của anh ấy để nó phá sản. Thứ cuối cùng chúng tôi giữ lại được chính là ngôi nhà của họ không bị ngân hàng tịch thu. Chị ấy đã rất sốc và bị ngất xỉu, tôi cũng không bất ngờ về điều này.

Lúc này, tôi đã giữ vị trí quản lý trong một công ty nước ngoài với lương tháng hơn 1.000 USD. Thứ tôi có thể giúp anh ấy là tiền lương hàng tháng của tôi hỗ trợ cho họ nuôi bọn trẻ. Anh ấy nghĩ không thể ly dị chị ấy trong tình trạng như thế này. Chị ấy vẫn không đi làm còn anh chật vật tìm hết việc này đến việc khác để kiếm sống, nhưng rất khó khăn. Điều tôi khâm phục anh ấy là bản lĩnh, anh đã không để mọi thứ suy sụp trong lúc khó khăn như vậy. Chúng tôi vẫn gặp nhau và tôi vẫn luôn chia sẻ với anh ấy.

Tôi sẽ rất đau khổ nếu chia tay với anh bởi sau một thời gian rất dài ở bên cạnh anh trong công việc và cuộc sống (3 năm) tình cảm tôi dành cho anh đã thực sự sâu nặng. Tuy nhiên đó cũng sẽ là lựa chọn của tôi khi thời gian không còn chờ tôi nữa, tôi đã 27 tuổi và tôi cần quên đi một mối tình không trọn vẹn để tìm cho mình một người đàn ông thực sự của cuộc đời mình, người mà với tôi đó mới là duyên phận của tôi.

Tôi đã nói chuyện với anh ấy, đây là lần thứ tư tôi nói về việc này. Anh ấy đã tỏ ra rất đau khổ và tuyệt vọng, trong suốt 15 ngày anh thường xuyên điện thoại cho tôi trong tình trạng say xỉn (trước đây ngay cả khi sự nghiệp bị sụp đổ anh ấy cũng chưa từng như vậy). Tôi cũng biết rằng anh đã từ rất lâu gần như không nói chuyện với vợ.

Tôi đã quyết định gặp lại anh ấy và đề nghị một việc mà bản thân tôi lúc đó cũng không biết được là đúng hay sai. Tôi đề nghị anh ấy hãy dứt khoát ly hôn với chị và đến với tôi. Anh ấy hãy để lại toàn bộ tài sản còn lại cho chị ấy, 2 đứa con anh một đứa đã vào đại học và một đứa vào lớp 2 sẽ ở với mẹ. Hằng tháng chúng tôi sẽ chu cấp tiền cho họ theo thỏa thuận.

Chị ấy có thể sẽ thuê một ngôi nhà nhỏ hơn một chút để ở, ngôi nhà đang ở chị ấy có thể cho thuê, tích lũy tiền bạc để tự tạo dựng cho mình một sự nghiệp nào đó. Còn anh ấy và tôi sẽ bắt đầu một cuộc sống mới với hai bàn tay trắng, với một ngôi nhà đi thuê. Tại thời điểm đó tôi đã nghĩ phải an cứ mới lập nghiệp, tôi tin chúng tôi sẽ có lại mọi thứ bằng bàn tay và khối óc của mình.

Đọc tâm sự của các anh chị, có một vài tâm sự cho rằng 100% kẻ thứ ba là người vụ lợi, còn tôi, tôi không tin như vậy. Ở tuổi 27, có một công việc ổn định, đang thăng tiến, xinh đẹp và thông minh, có rất nhiều người đàn ông vây quanh tôi, có nhiều người có nhà lầu xe hơi muốn rước tôi về, nhưng tôi đã từ chối để đến với một người đàn ông thất nghiệp, không nhà, không xe, không tiền bạc và đầu đã 2 thứ tóc, chỉ bởi đơn giản vì tôi yêu anh ấy rất chân thành. Tôi tin vào những tiềm năng trong con người và bản lĩnh của anh ấy.

Chúng tôi đã đến với nhau và thành một gia đình thực sự hạnh phúc trong điều kiện như vậy. Bây giờ, sau 5 năm, chồng tôi đã lại trở thành một người thành đạt với hậu phương vững chắc là tôi, chúng tôi có nhà, có xe, có một đứa con đẹp như thiên thần. Và mỗi tuần anh ấy vẫn đón 2 con về ở với chúng tôi một ngày. Anh ấy có một buổi chiều để tâm sự với cậu cả như hai người bạn, điều mà trước đây anh ấy không làm được ngay cả khi ở bên chúng. Mỗi khi đi đâu hoặc mua gì cho thiên thần của tôi, tôi đều mua quà cho 2 cậu bé và trong nhà tôi cũng có phòng riêng của chúng. Vợ cũ của anh ấy vẫn sống một mình, nhưng chị ấy khỏe mạnh, tự tin và trẻ ra nhiều so với trước đây.

Cuối cùng thì cho dù mọi người có nói gì đi chăng nữa tôi cũng đã trở thành người phụ nữ hạnh phúc. Có nhiều người cho rằng khi một người đàn ông có thể bỏ vợ để lấy bạn thì người đó cũng có thể bỏ bạn, tôi không hoàn toàn nghĩ như vậy. Tôi luôn luôn cố gắng hoàn thiện mình trong xã hội cũng như trong gia đình, luôn làm mới mình, chăm sóc bản thân cả về nhan sắc và kiến thức, luôn là người bạn tốt nhất của chồng chia sẻ với anh mọi điều ngay cả những điều mà đàn ông ít khi tâm sự với vợ. Chồng tôi sau tất cả những việc tôi đã làm, đã không chỉ tôn trọng mà còn nể trọng tôi và tôi biết rằng chắc chắn trong mắt anh tôi là người phụ nữ đẹp nhất.

Tôi kể câu chuyện của mình mong rằng có ai đó trong hoàn cảnh của tôi có thể tự tìm được cho mình cách giải quyết. Tôi nghĩ điều quan trọng là ở các bạn.

Tôi xin được chúc các anh chị luôn hạnh phúc và chúc cho quý báo ngày càng có nhiều độc giả.

Chào thân ái.

Hoàng An



Giãi bày từ vợ cũ của chồng Hoàng An

Chào các bạn độc giả của VnExpress.net,

Tôi xin tự giới thiệu, tôi là người vợ trước của chồng Hoàng An. Tôi vốn không biết gì nhiều về Internet và mục Tâm sự. Cho đến cách đây mấy ngày, tôi nhận được một món quà đặc biệt từ một người họ hàng của chồng Hoàng An gửi cho. Đó là bài viết của Hoàng An và các bài phản hồi được đóng thành một tập.

Tôi rất bất ngờ về món quà này và đã đọc suốt đêm. Tôi không ngờ rằng câu chuyện của gia đình tôi đã trở thành một đề tài để mọi người bình luận. Người họ hàng của chồng Hoàng An vốn rất yêu quý tôi và đã động viên tôi viết bài gửi lên diễn đàn, tôi rất mong mục tâm sự đăng bài viết này để tôi có cơ hội giãi bày với các độc giả.

Tôi vốn là một người phụ nữ sống kín đáo và có phần nhút nhát. Từ nhỏ tôi luôn sống an phận và không bao giờ tranh giành cái gì với ai. Khi trưởng thành tôi được mọi người nhận xét là cô gái hiền lành và sống chu đáo với mọi người. Mặc dù không xinh đẹp nổi bật nhưng tôi có hình thức dịu dàng và ưa nhìn nên cũng được nhiều chàng trai theo đuổi. Trong số đó có chồng của Hoàng An.

Phải nói là anh đã rất kiên trì nên đã gạt được những chàng trai khác để chiếm được tình yêu của tôi sau một thời gian dài theo đuổi. Chúng tôi đã có những ngày tháng yêu nhau say đắm, có những năm tháng tuổi trẻ vô cùng lãng mạn. Mối quan hệ của chúng tôi đã rất thuận lợi về mọi mặt, được gia đình hai bên vun vén, anh luôn hối thúc tôi làm đám cưới sớm vì anh luôn sợ mất tôi.

Sau đám cưới đầm ấm và hạnh phúc, cuộc sống của chúng tôi tuy khó khăn về vật chất, nhưng hạnh phúc vô bờ, anh thường nói với tôi về mong muốn có một gia đình hạnh phúc lý tưởng: chồng sẽ là trụ cột kiếm tiền còn vợ sẽ chăm lo cho con cái và là hậu phương vững chắc cho chồng. Còn tôi cũng nói với anh về mong muốn của mình là sau khi con cái khôn lớn chúng tôi sẽ có những năm tháng tuổi già êm đềm chăm sóc cho nhau đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Với những mong muốn đơn sơ đó, chúng tôi đã sống những năm tháng hạnh phúc, và dồn hết tình yêu cho hai con. Cuộc sống êm đềm đó kéo dài được hơn mười năm, anh thì lăn lộn ở ngoài thương trường còn tôi thì chăm lo cho gia đình nhỏ cũng như lo toan công việc cho gia đình chồng. Có những lúc thấy anh căng thẳng suy tính công việc tôi thương anh vô cùng, và ngỏ ý muốn chia sẻ nỗi lo lắng đó. Nhưng anh đã ôm tôi vào lòng và nói rằng anh không muốn để tôi vất vả thêm nữa vì anh cũng biết việc chăm lo cho hai con học hành cùng việc lo toan cho nhà chồng đã chiếm hầu hết thời gian của tôi.

Tôi luôn tin tưởng vào tình yêu của anh với tôi và các con, ngay cả khi những người họ hàng của anh cho tôi biết quan hệ của anh với cô giúp việc ở công ty tôi cũng không nghi ngờ và luôn cho rằng cô ấy đang giúp chúng tôi rất nhiều. Cho đến khi công ty phá sản và anh tỏ ra thờ ơ với mẹ con tôi thì tôi mới tỉnh ngộ ra, nhưng đã không kip nữa rồi.

Anh đã khóc khi yêu cầu ly dị tôi. Khi nhìn vẻ tiều tụy của anh tôi thấy nếu mình cứ tiếp tục tranh giành anh với cô gái kia thì anh sẽ là người đau khổ nhất. Nếu ai từng xem vở kịch "Vòng phấn CAPCADƠ" thì sẽ hiểu tâm trạng của tôi lúc ấy. Hai cô bé trong câu chuyện giằng nhau con búp bê, nếu cứ tiếp tục giành giật thì con búp bê sẽ bị rách tan nát, nên một cô bé đành phải buông tay để mất con búp bê cho người kia chỉ để mong rằng con búp bê còn nguyên vẹn.

Tôi đã đành buông tay giống cô bé đó, nhưng đáng tiếc trong câu chuyện của tôi không có vị quan tòa tốt bụng để phân xử công bằng. Tôi đã ly dị trong tâm trạng như vậy đấy các bạn à. Tôi vẫn còn yêu anh rất nhiều nhưng đành để mất anh. Sau khi ly hôn là những ngày tháng đắng cay nhất trong cuộc đời tôi, tôi đã buông xuôi để anh sắp xếp mọi việc.

Khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu để bắt đầu cuộc đời mới, ba mẹ con tôi đã vô cùng khổ sở và vất vả, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Tôi có thể cắn răng chịu đựng được nhưng thương các con vô cùng, các cháu không đáng bị thế. Đêm đêm tôi khóc thầm cho số phận của mình, nhưng sáng ra phải cố cười nói để đem lại cho các con một ngày mới vui vẻ. Hành trang mà tôi mang theo khi chuyển nhà là những tấm hình kỷ niệm của chúng tôi từ ngày yêu nhau cho đến khi có các con.

Tôi luôn kín đáo cho các con thấy rằng chúng được sinh ra từ tình yêu của bố mẹ để chúng có được sự tự tin khi bước vào đời. Tôi hầu như kìm nén được cảm xúc đau đớn của mình để không khóc trước mặt con cái. Duy nhất có một lần khi cháu bé nói với tôi: "Đêm hôm qua con nằm mơ chúng ta lại được về sống ở ngôi nhà cũ, con nhớ nhà và thèm được có cả bố và mẹ", tôi đã bật khóc nức nở và không nói được lời nào.

Khi ấy cháu lớn bỗng trách tôi "Tại sao mẹ không giữ bố cho chúng con", tôi như gục ngã hoàn toàn. Nhưng hình như cháu lớn đã biết mình lỡ lời nên quay sang an ủi em "Em yên tâm, anh sẽ cố gắng học thật giỏi và nhanh chóng kiếm được nhiều tiền để ba mẹ con mình sẽ quay về sống ở ngôi nhà đó".

Trong giai đoạn khó khăn đó tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của những người họ hàng bên nhà chồng, có người từng nói với tôi "chị chỉ mất chồng thôi, còn tất cả họ hàng vẫn coi chị là con dâu của gia đình. Khi cưới chị đã có lễ gia tiên nên tất cả tổ tiên của dòng họ cũng chứng giám và che chở cho ba mẹ con chị". Cho đến tận bây giờ họ vẫn thường xuyên qua lại và giúp đỡ ba mẹ con tôi mỗi khi cần thiết.

Tôi đã sống như một cái xác không hồn, chỉ biết dồn hết tâm sức chăm lo cho các con, vui niềm vui của chúng, buồn nỗi buồn của chúng. Mặc dù vẫn còn đau buồn nhưng tôi không còn oán hận bố các cháu, vẫn thường nhắc các cháu về thăm bố đều đặn và vui vẻ nhận quà của bố. Tuy nhiên sau mỗi lần các cháu từ nhà bố trở về, tôi thấy các cháu đăm chiêu và khó hiểu. Tôi giả vờ không để ý và các cháu cũng không nói chuyện gì về gia đình của bố, có lẽ các cháu sợ tôi buồn.

Càng lớn các cháu càng thương tôi nhiều hơn và đã có lần cháu lớn nói với tôi rằng “mẹ chính là động lực để con quyết tâm học giỏi”. Tôi thực sự hạnh phúc khi cả hai cháu đều học rất giỏi. Khi cháu lớn đỗ đại học tôi đã vui mừng khôn tả và dần lấy lại được cân bằng.

Giờ đây cuộc sống của ba mẹ con tôi đã tương đối ổn định, nhờ trời phật sức khỏe của tôi đã khá hơn rất nhiều so với trước đây. Tôi cũng đã tự tin hơn khi một mình nuôi dậy được các cháu nên người. Tuy nhiên mỗi khi nghĩ về tương lai tôi vẫn hơi lo lắng vì rồi đây các con tôi trưởng thành và bay xa, tôi không thể vì mình mà cản trở tương lai của các cháu, tôi sẽ sống tuổi già cô đơn không có người bạn đời bên mình để chia sẻ. Lo lắng là vậy nhưng tôi cũng hy vọng mình ở hiền sẽ gặp lành vì vào những lúc khó khăn đau khổ nhất tôi vẫn luôn có những người họ hàng và bạn bè luôn sẵn lòng giúp đỡ và chia sẻ với tôi.

Giờ đây tôi đang sống thanh thản vì không còn sự oán hận trong lòng. Tôi muốn gửi đến Hoàng An mấy lời: "Em hãy thay chị chăm sóc cho anh ấy thật tốt. Mặc dù bên ngoài trông khỏe mạnh là vậy, nhưng anh mắc nhiều bệnh mãn tính lắm và anh thường hay giấu bệnh để người thân không phải lo lắng".

Qua đây tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến những độc giả chưa từng biết tôi, nhưng đã chia sẻ và luôn chúc phúc cho tôi. Đây là món quà tinh thần vô giá đối với tôi. Mất đi một người, nhưng tôi nhận được tình cảm của rất nhiều người.

Xin chân thành cảm ơn mục Tâm sự đã cho tôi cơ hội cảm tạ những tấm lòng nhân hậu của các độc giả.

Violet


Tôi không cướp giật hạnh phúc của người khác

Chào các anh chị!

Cho phép tôi gửi đến các anh chị lời cảm ơn chân thành tới tất cả những lời cảm thông, những lời chê trách và sự chúc phúc của các anh chị tới tôi và gia đình tôi sau bài viết “Tôi là người thứ ba hạnh phúc”.

Phải nói rằng tôi hết sức bất ngờ vì có quá nhiều người quan tâm và phản hồi bài viết của tôi, nhưng không giống như nhiều người nghĩ, tôi đã đọc hết từ đầu đến cuối từng bài viết. Có những bài tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần với mong muốn lĩnh hội được tất cả những hàm ý sâu xa mà các anh chị muốn gửi gắm.

Tôi cũng không định viết bài viết này vì thực tế bài viết của tôi chỉ là một tâm sự nhỏ muốn trao đổi với chị Ngọc và những người có hoàn cảnh như chị Ngọc, mong muốn giúp họ có thêm một sự lựa chọn để giải quyết vấn đề của họ để có kết quả tốt nhất có thể cho tất cả những người trong cuộc chứ không hề có ý khoe khoang gì hạnh phúc mình đang có như một số anh chị nghĩ.

Cũng xin nói thêm rằng nhan đề “Tôi là người thứ ba hạnh phúc” là do ban biên tập đặt cho bài viết của tôi chứ không phải do tôi đặt, nếu đặt nhan đề cho bài viết của mình có lẽ tôi sẽ đặt là “Từng là người thứ ba nhưng bây giờ tôi là người phụ nữ hạnh phúc”.

Tôi cũng không muốn nói nhiều đến bản thân hay cuộc sống của chồng tôi và vợ cũ của anh ấy trước khi họ ly hôn bởi vì với những người quá nhạy cảm như một số anh/chị đã phản hồi bài viết của tôi thì dù tôi có nói gì thì đó cũng chỉ là sự ngụy biện mà thôi. Chỉ có một điều rằng đến thời điểm hiện tại, ba người chúng tôi đều rất thanh thản và hiểu rằng mình đã hành động đúng.

Vợ cũ của chồng tôi là một người phụ nữ tốt, chị ấy đang sống độc thân nhưng không cô đơn như mọi người nghĩ. Chị ấy có bạn bè, có công việc mà chị ấy yêu thích, tự tin vào bản thân (điều mà trước khi ly hôn chị ấy không có), vẫn là một người bạn của chồng tôi, và tôi tin rằng chị ấy cũng sẽ sớm tìm được hạnh phúc riêng của mình.

Đã 5 năm kể từ ngày chúng tôi kết hôn, đôi khi nhìn lại chặng đường đã qua tôi cảm thấy đó là một khoảng thời gian rất dài và vất vả. Khi quyết định kết hôn với anh ấy, tôi đã phải đấu tranh với bản thân mình rất nhiều vì tôi biết rằng nếu chúng tôi sống không hòa hợp, chỉ cần có những bất đồng nho nhỏ như mọi gia đình khác thôi là chắc chắn chúng tôi sẽ nhận được bom tấn của dư luận.

Và tất nhiên chồng tôi cũng hiểu điều đó, do vậy cả hai vợ chồng tôi càng yêu thương nhau hơn, càng đồng tâm hiệp lực với nhau hơn, nghị lực tăng lên gấp bội phần để vượt qua mọi khó khăn thử thách từ kinh tế, đến tình cảm đến các quan hệ xã hội.

Tôi đã đọc được rất nhiều các cụm từ như “cướp (giật) chồng, cướp (giật) hạnh phúc”… trong bài viết của một số anh/chị, tôi nghĩ nếu anh/chị đó không ở trong hoàn cảnh của 3 người chúng tôi thì đó là những người đang lý tưởng hóa cuộc sống. Còn nếu anh/chị đó ở vào hoàn cảnh của người vợ cũ chồng tôi thì tôi nghĩ anh/chị nên xem lại bản thân mình trước khi quy kết cho người khác.

Tại sao tôi lại nói như vậy? Hạnh phúc chỉ xây dựng được khi có 2 người cùng yêu thương, cùng cảm thông chia sẻ, cùng vun đắp mà con người thì không thể nói ai có thể cướp được. Hạnh phúc rất là vô hình, chẳng ai có thể nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận được mà thôi. Hạnh phúc có được sau cả một thời gian dài xây dựng và đương nhiên nó không dễ dàng mất đi và càng không thể bị cướp.

Hạnh phúc chẳng có ai tự nhiên mang đến, chính là tự mình tạo ra cho mình, hạnh phúc không gò bó nó là tự nguyện. Với tất cả những định nghĩa đó tôi không hề cướp hạnh phúc của ai, hạnh phúc mà tôi đang có được tôi dựng xây bằng sự nỗ lực của bản thân mình, bằng tình yêu thương với chồng của tôi và đương nhiên cả tình yêu thương mà anh ấy dành cho tôi nữa.

Có rất nhiều anh/chị đã dùng từ “ép” để nói rằng tôi ép chồng tôi bỏ vợ bỏ con. Không hiểu mọi người đã suy nghĩ kỹ chưa khi nói như vậy. Anh ấy đến với tôi đó là lựa chọn của anh ấy, đó là sự tự nguyện của anh ấy, trong toàn bộ bài viết của mình tôi không hề kể rằng tôi đã dùng thủ đoạn gì để ép anh ấy cả. Và giả sử tôi có giờ thủ đoạn nào để ép anh ấy liệu rằng tôi được lợi gì trong một cuộc hôn nhân không tình yêu (ép buộc).

Khi anh ấy bày tỏ tình cảm với tôi lần đầu tiên, như mọi người đàn ông tìm kiếm tình cảm ngoài gia đình khác anh ấy nói không hạnh phúc (mặc dù anh ấy không bao giờ nói xấu vợ). Tôi tin chắc chắn rằng một người phụ nữ khôn ngoan nào cũng sẽ hành động giống như tôi, đó là đề nghị người đàn ông đó ly hôn trước khi đến với mình, đó cũng giống như là một phép thử, và anh ấy đã nói cho thời gian.

Thời gian để làm gì? Thời gian để làm công tác tư tưởng với con, thời gian để làm công tác tư tưởng với vợ, người phụ nữ bản chất hiền lành đã luôn sống phụ thuộc vào anh ấy nhiều năm qua. Thời gian để tạo dựng cho chị ấy một công việc, một số mối quan hệ nào đó để chị ấy có thể tự tin và vượt qua cũng như có khả năng tìm kiếm các mối quan hệ mới sau khi ly hôn. Thời gian để anh ấy vực lại công ty đang trên bờ vực phá sản với hy vọng dù rất mỏng manh rằng sẽ vượt qua…

Và nếu như những lời nói của anh ấy là những lời nói không thật lòng, anh chỉ mong tìm kiếm ở tôi những phút giây vui vẻ ngoài chồng ngoài vợ thì anh đã không bao giờ chấp nhận tình chay với tôi suốt 3 năm như vậy mà đã nhanh chóng chia tay tôi để đi tìm cô bồ trẻ đẹp khác.

Có nhiều người mỉa mai rằng tôi đã ra sức đuổi những người họ hàng của vợ anh ấy ra khỏi công ty nhưng rồi cuối cùng công ty vẫn phá sản… Trong một nỗ lực cứu người, bác sĩ có thể cắt đi nhiều phần trên cơ thể bệnh nhân nhưng nếu người đó bị thương quá nặng người đó vẫn chết. Đấy là sinh mạng của một con người chứ không nói sinh mạng của một công ty.

Tôi đã cho nghỉ việc nhiều người trong đó có nhiều người là cháu của họ (phần lớn là cháu của anh ấy), nếu thực sự có tính toán trong việc này tôi sẽ phải vuốt ve họ để tranh thủ tình cảm của họ chứ? Nhưng không? Tôi làm như vậy vì trách nhiệm của tôi với công việc, và nếu tôi không làm như vậy thì có thể anh ấy đã rơi vào con đường tù tội, nhà đã bị ngân hàng tịch thu rồi.

Anh ấy chưa muốn ly hôn, không phải vì còn muốn hàn gắn. Con người của anh ấy tôi rất hiểu sau 3 năm cùng trải qua những khó khăn với anh ấy. Có lẽ chỉ có những người nào sống trong cảnh đồng sàng dị mộng mới hiểu được cảm giác của chồng tôi khi đó. Có lần anh ấy nói với tôi rằng “anh thực sự không còn tình yêu với chị ấy nhưng anh thực sự rất thương chị ấy, vì chị ấy là một người tốt” và lúc đó trông anh ấy rất tâm trạng.

Người miền Nam thường nói rằng “anh thương em” có nghĩa là “anh yêu em” nhưng với người miền Bắc thì khác “thương” là “thương” và “yêu” là “yêu”. Anh ấy từng mong ước có thể vực lại công ty, có thể bù đắp cho chị ấy nhiều hơn về vật chất khi mà tình cảm anh không thể chia sẻ với chị ấy. Nhưng khi đó công ty không còn, công việc của anh ấy cũng không còn, chỉ còn xác nhà, cuộc sống trăm ngàn khó khăn… Khi yêu tôi, anh ấy cũng mong muốn mang lại hạnh phúc cho tôi nhưng với suy nghĩ của anh ấy tại thời điểm đó thì đối với anh là quá xa vời khi anh cho rằng nếu tôi lấy anh ấy tôi sẽ rất khổ vì dư luận xã hội, vì tiền bạc và cả gánh nặng từ phía anh ấy nữa.

Lần sau cùng nói lời chia tay với anh ấy, tôi đã chuẩn bị cho mình nhiều kế hoạch để đảm bảo mình không bị rơi vào cảm giác trống trải cô đơn sau khi kết thúc một mối quan hệ kéo dài suốt 3 năm với nhiều kỷ niệm thăng trầm. Khi đó anh ấy nói với tôi rằng: “Nếu em không chờ anh nữa, anh sẽ cố gắng sống tốt, sẽ cố gắng không ly hôn với chị ấy nhưng chắc chắn rằng phần đời còn lại của anh sẽ rất cô đơn vì anh và chị ấy đã không thể nói chuyện với nhau từ nhiều năm nay”. Khi đó cả hai chúng tôi cùng khóc.

Trong lòng tôi thực sự cảm nhận đó là người đàn ông tốt mà tôi có duyên gặp trong cuộc đời này. Dẫu biết rằng trong cuộc đời không biết tôi có thể gặp ai hiểu tôi hơn anh ấy và yêu tôi hơn anh ấy hay không, nhưng khi đó tôi thực sự quyết tâm rời xa anh ấy và coi như chúng tôi không có phận.

Thực ra trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ, nếu hai người không còn tình cảm nữa thì hãy ly hôn để giải phóng cho nhau khi còn trẻ, khi cả hai còn cơ hội để làm lại. Lúc mình còn trẻ, mình còn có công việc và bạn bè, nên việc về nhà khắc khẩu hay chiến tranh lạnh thường xuyên cũng nhìn về con cái mà thấy vẫn có thể cố gắng được. Nhưng khi mình sa cơ lỡ thế, khi mình già cả, bạn bè cũng không có nhiều, không còn thú vui bù khú bên bạn bè, không còn sức khỏe để đam mê công việc, lúc ấy chỉ muốn tâm sự với bạn đời.

Nhưng bạn đời cả đời chẳng hiểu mình chẳng thể nói chuyện với nhau, lúc đó sẽ thấy cô đơn như thế nào, lúc đó muốn ly hôn để tìm cơ hội mới thì cũng muộn rồi (đã 60 tuổi), nhất là với những người phụ nữ. Nhưng giữa tôi và anh là khoảng cách 15 tuổi, mặc dù cùng quan điểm sống và rất hiểu nhau nhưng tôi chưa bao giờ trao đổi với anh về việc này vì nó rất nhạy cảm.

15 ngày kể từ ngày chúng tôi nói lời chia tay, là 15 ngày thực sự khó khăn trong cuộc đời của tôi. Đó là thời gian mà tôi chứng kiến người tôi yêu sống trong đau khổ tột cùng vì tôi. Người tôi yêu, người đàn ông rất bản lĩnh khi bình tĩnh chèo lái sự nghiệp của mình dù nó đang xuống dốc không phanh, người đàn ông rất bản lĩnh khi mà sự nghiệp cả 10 năm xây dựng tan trong mây khỏi thì bây giờ đã trở nên quá yếu đuối vì tình. Anh ấy say xỉn và nhắn tin cho tôi những lời tình cảm khi không còn tỉnh táo, khi mà chữ viết trong tin nhắn cũng không còn chuẩn nữa.

Tôi phải đấu tranh với chính mình, tôi giống như người đang đứng ở ngã ba đường không biết rẽ một hướng nào đó hay quay lại. Tôi chọn quay lại, tôi chọn cách cùng với anh ấy đối diện với sự thật để vượt qua nó và nói tất cả những cảm nghĩ của mình với anh ấy để chúng tôi có nhau. Tôi không phủ nhận tôi là dấu chấm hết trong cuộc hôn nhân đó, nhưng tôi không hề lấy đi hạnh phúc của người khác vì hạnh phúc đó đã tắt nguội trước khi tôi xuất hiện trong cuộc đời của anh ấy.

Chưa bao giờ trong cuộc sống hay trong những bài viết như thế này tôi nói rằng vợ cũ của chồng tôi không tốt hay không bằng tôi, vì vậy tôi cũng mong các anh chị đừng quá bức xúc khi cho rằng tôi đề cao bản thân mình hơn chị ấy. Tôi luôn biết chị ấy là một người phụ nữ tốt và xứng đáng được hưởng hạnh phúc, chỉ có điều chị ấy và anh ấy không hợp nhau, không cùng quan điểm sống và thực sự không phù hợp để sống với nhau.

Họ đã cố nhưng sự cố gắng đó đã không trọn vẹn được cả đời, đó là điều đáng tiếc, và tôi tin chị ấy sẽ gặp và cưới một người phù hợp với chị ấy (quan điểm sống, lối sống…) để được sống hạnh phúc. Vì vậy nếu như có chị nào rơi vào hoàn cảnh như vợ cũ của chồng tôi cũng đừng quá buồn phiền vì suy nghĩ “mình có lỗi gì mà chồng lại ly hôn”. Tôi thấy có quá nhiều phụ nữ có suy nghĩ như vậy.

Tôi cũng không đồng tình với một vài quan điểm cho rằng nếu ly hôn thì sẽ không bao giờ cho con gặp bố của nó. Pháp luật không cho phép như vậy nếu như không có những lý do cho thấy rằng gặp bố sẽ nguy hiểm đến đứa trẻ. Nhưng tôi nghĩ bản thân những người làm cha làm mẹ khi biết mình không thể giữ được gia đình hạnh phúc trọn vẹn cho con thì cũng sẽ tạo điều kiện để cả hai cùng quan tâm, chăm sóc đến con cái, cũng đừng thù hằn nhau, như vậy mới là vì con. Các anh chị có thể tham khảo một số bài viết về văn hóa ly hôn trên một số báo trong thời gian gần đây.

Với tất cả những gì tôi đã tâm sự ở trên đây, tôi hoàn toàn tự tin để nói rằng tôi rất tin vào thuyết nhân quả, biết rằng “gieo nhân nào gặt quả ấy”. Tôi đang gieo những hạt giống tốt cho cuộc đời tôi và hạnh phúc gia đình tôi: Đó là sự dịu dàng và chân thật, tôn trọng dành cho chồng tôi, sự nhân hậu dành cho tất cả các con của anh ấy, sự thân thiện dành cho gia đình, hàng xóm láng giềng và bạn bè của anh ấy, cũng giống như luôn biết giữ khoảng cách với những người đàn ông xung quanh để anh ấy yên lòng và luôn trau dồi kỹ năng sống. Vì với tôi kỹ năng sống là rất quan trọng. Và tôi tin tôi sẽ nhận được quả ngọt trong cuộc sống của mình.

Với tất cả những điều tôi đã nói ở trên, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tôi đủ tự tin để nuôi dậy con gái của tôi thành một người tốt, và nếu nó có đôi phần đức tính mạnh mẽ và quyết đoán của tôi thì tôi sẽ rất yên tâm. Vì tôi tin rằng trong cuộc sống sau này của con con sẽ đủ mạnh mẽ để vượt qua khó khăn mà nó gặp phải.

Có nhiều anh/chị cũng nói rằng tôi cứ tin tưởng là mình đang hạnh phúc nhưng biết đâu rằng chồng tôi đang vui vẻ bên cô em xinh đẹp tài năng nào đó. Cuộc đời không ai học được chữ “ngờ”, cuộc đời không ai biết trước được điều gì cả, biết vậy nên tôi chắc chắn cũng sẽ không mảy may gì nếu điều đó xảy ra đâu. Tuy nhiên như bao người phụ nữ hiện đại khác, giữa tôi và chồng có giao ước về những giới hạn được phép trong các mối quan hệ nhạy cảm, tôi chẳng cần bỏ thời gian ra để đi giám sát chồng hay cằn nhằn anh ấy về chuyện này chuyện nọ.

Có nhiều anh chị nói rằng “ước gì tôi đừng già, đừng nhăn nheo xấu xí, đừng xấu tính hay cằn nhằn” xin cảm ơn những điều ước tốt đẹp đó dành cho tôi. Phụ nữ ai mà chẳng muốn trẻ mãi, nhưng chẳng thể chống lại được với thời gian đối với nhan sắc của mình, nhưng phụ nữ luôn có thể làm mình thậm chí đẹp hơn theo năm tháng bằng kỹ năng sống, bằng cách xử sự.

Tôi có một quan điểm rằng trong gia đình tôi không có chữ cho từ “hy sinh”. Chưa bao giờ tôi làm điều gì cho chồng mà tôi nghĩ tôi đang hy sinh cho anh ấy cả. Tôi làm khi tôi thấy muốn, khi anh ấy vui và tôi thấy hạnh phúc. Tôi luôn quan tâm đến cảm xúc của mình trước tiên vì vậy mà tôi chẳng bao giờ có áp lực cho những việc mà mọi người vẫn hay gọi là “hy sinh” đó.

Chồng tôi có thể đáp lại thịnh tình đó hoặc không tôi cũng không đòi hỏi, chỉ cần nhìn thấy chồng vui cười, hạnh phúc là tôi thấy mãn nguyện rồi vì vậy anh/chị à, cảm ơn anh/chị đã nhắc nhở, tôi sẽ cố gắng sống như vậy mãi để chẳng bao giờ xấu tính đi cằn nhằn chồng này nọ. Còn khó khăn cơm áo gạo tiền, khó khăn mất cả gia sản, khó khăn vì áp lực từ phía gia đình, ốm đau, bệnh tật… tôi cũng từng trải qua rồi.

Tôi cũng xin được nhắn gửi đến anh Nguyễn Việt Trường tác giả bài viết “Hoàng an không thanh thản làm sao mà hạnh phúc được”. Vâng, như anh thấy đấy, chắc là tôi và chồng tôi sẽ không phải là không thanh thản như là anh nghĩ. Còn về phần tâm linh, trong sách nhà Phật vẫn dậy chúng ta phải biết từ - bi - hỉ - xả, vậy mà anh vừa đọc chuyện của tôi chưa kịp hiểu kỹ đã bức xúc đến mức phải nói như vậy chắc là anh cũng chưa đọc sách nhiều lắm đâu, hoặc là đọc nhiều nhưng tâm chưa nhập.

Những người đọc nhiều sách của các triết gia (trong đó có cả phật, chúa, thánh…) đều có thái độ rất bình tĩnh và điềm đạm trong cuộc sống. Trong sách nhà Phật cũng dậy trong thiện có ác, trong ác có thiện. Nếu ta cứu một người là làm việc thiện, nhưng người đó là kẻ giết người vì được ta cứu sống nên lại có cơ hội đi giết người khác thì việc thiện ta làm đã trở thành việc ác rồi. Nếu ta giết một người, đó là việc ác, nhưng giết người này nhằm ngăn chặn anh ta giết những người khác, vậy hành vi đó lại là việc thiện. Bởi vậy, đừng thấy đổ vỡ mà cho là xấu, đừng thấy lành lặn mà nghĩ là hoàn toàn tốt đẹp.

Anh còn nói rằng tôi phải cảm ơn người vợ trước của chồng tôi đã làm “chuột bạch” để tôi có hạnh phúc! Vâng, một ví dụ rất hay mặc dù nó không được hay cho lắm. Nhưng nếu ai cũng lấy sự thất bại của người khác, đổ vỡ của người khác để trải nghiệm và rút ra bài học cho mình để sống tốt hơn thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp biết bao, sẽ có thêm nhiều nhiều người được hạnh phúc.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị đã quan tâm đến bài viết của tôi và góp ý cho tâm sự của tôi. Dù ủng hộ hay phản đối, dù chê trách hay khen ngợi thì tôi cũng xin được ghi nhận những góp ý của mọi người để hoàn thiện kỹ năng sống cho mình. Và tôi cũng xin chúc cho các anh chị luôn có hạnh phúc trong cuộc sống. Chúc cho những người thứ ba tìm được đường đi, đừng lầm đường lạc lối để phải lụy cho bản thân và khổ dai dẳng cho những người khác và mong rằng các anh đừng ngoại tình khi còn tình cảm với vợ con để rồi phải khổ cho cả 3 người.

Cảm ơn VnExpress.net đã một lần nữa tạo cơ hội cho tôi tâm sự với mọi người và chúc quý báo ngày càng thành công.

Hoàng An


Đến lúc chết, ba tôi vẫn không quên được vợ cũ là mẹ tôi

Tôi là người đã theo dõi bài viết của Hoàng An về chủ đề "Tôi là người thứ ba hạnh phúc" va cả bài viết thứ hai biện minh cho hành động của mình của Hoàng An từ lâu. Nhưng hôm nay tôi quyết định dành chút thời gian nhân những ngày được nghỉ lễ để gửi bài viết của tôi đến tòa soạn sau khi đọc bài viết của chị Violet, vợ cũ của chồng Hoàng An.

Xin nói rằng trước khi đọc bài viết của chị Violet, tôi đã không hề đồng tình với cách sống và quan niệm về mối quan hệ cũng như cách cư xử giữa người với người của Hoàng An để cho thấy rằng tôi không hề thiên vị.

Xin có đôi lời tự giới thiệu về bản thân, tôi là một phụ nữ 30 tuổi, đã lập gia đình và có một cháu trai rất ngoan. Chồng tôi là người Mỹ nhưng anh là người sống rất trọng tình cảm, nói vậy để cho thấy rằng tôi là người không hề bảo thủ và phong kiến (tôi sang Mỹ sống từ năm tôi 17 tuổi), vậy cho nên xin đừng nói rằng ý kiến của tôi không thuộc vào diện những người phụ nữ hiện đại.

Tôi hiện theo học ngành bác sĩ khoa tâm lý tại tiểu bang California cho nên tôi rất quan tâm về những vần đề có liên quan đến cách cư xử và mối quan hệ giữa người với người. Nhiều người chắc có lẽ không nghĩ rằng một phụ nữ đã 30 và có con lại có thể theo đuổi một ngành đòi hỏi rất nhiều thời gian, sức lực và tâm trí như thế. Xin thưa rằng vì tôi là người đã ở trong vị trí của con chị Violet ngày xưa.

Lần đầu tiên khi đọc bài viết của Hoàng An, nó đã khơi gợi lại rất nhiều những ký ức hạnh phúc và cả đau buồn của gia đình tôi ngày xưa. Không phải tôi chỉ đoán mà biết chắc chắn rằng Hoàng An đang tự huyễn hoặc về sự thanh thản của những người trong cuộc, và tai hại hơn nữa là của tự chính mình. Không đời nào một gia đình gắn bó với nhau hơn 15 năm trời lại có thể không bị tổn thương về mặt tinh thần khi phải chịu cảnh chia ly, nhất là khi những đứa con đều đã ở độ tuổi trưởng thành và đã có sự nhìn nhận về cuộc sống.

Xin Hoàng An hãy tìm hiểu những tài liệu, nghiên cứu và sách vở để đọc và hiểu thêm về vấn đề, "Effects of Divorce on Children" (especially when the parents divorce later on in life) nếu tự cho mình là người phụ nữ học thức và hiện đại. Nếu muốn tôi có thể gửi thẳng tài liệu cho Hoàng An và cả những người trẻ tuổi có suy nghĩ như Hoàng An để thấy rằng khoa học và sự tiến bộ của văn hóa hiện đại là để giúp chúng ta hoàn thiện hơn và giảm nhẹ những tổn thất cả về mặt sinh lý cũng như tâm lý, chứ không phải để đi ngược lại những giá trị truyền thống và lợi ích của nó.

Vấn đề Hoàng An thật sự không nhìn nhận được đó là Hoàng An đã chen chân vào gia dình của người khác những 3 năm trước khi họ chia tay, chứ không phai là chồng Hoàng An đã ly thân hoặc chia tay vợ trước khi gặp Hoàng An. Ranh giới giữa cái đúng và sai đôi khi chỉ cách nhau bằng khoảng cách một sợi tóc thôi. Trong vấn đề này đã quá rõ ràng rằng chồng Hoàng An đã ngoại tình cách này hay cách khác cho dù đó chỉ là ngoại tình tư tưởng, và Hoàng An là người đồng phạm.

Không có cái việc đấu tranh cho tình yêu như một số bạn đã sai lầm gán ghép ý nghĩa của những cụm từ này cho hành động và nhận thức của Hoàng An. Đấu tranh hết mình cho tình yêu là dành cho hai người không có ràng buộc và quan hệ pháp lý và cả tình cảm với bất kỳ ai khác, đấu tranh trong hoàn cảnh khó khăn để đến với nhau. Một khi đã có vợ hoặc chồng mà nảy sinh tình cảm với người thứ ba thì đó không còn là tình yêu chân chính nữa vì nó không được sự chấp thuận của cả luật pháp lẫn xã hội.

Hoàng An đã rơi vào hội chứng "self fulfilling prophecy" tức là trong sâu thẩm tâm thức biết mình sai, nhưng tính cố chấp và tự mãn đã thuyết phục Hoàng An rằng hành động của mình là đúng khi tự đặt ra những lý do được cho là xác đáng. Hội chứng này có tính positive nhưng cũng có tính negative. Nó positive khi một người muốn phấn đấu để đậu bằng đại học, thăng chức, cố gắng để khắc phục những điểm yếu bằng cách tự nói và động viên rằng mình sẽ làm được. Ngược lại nó cũng có thể đem lại hậu quả khi một người tự thuyết phục bản thân việc đúng thành sai, theo thời gian nó sẽ được tin rằng điều đó là đúng.

Hoàng An là người sống theo chủ nghĩa "materialism, self-interest, and fail to show compassion" tạm dịch là thực dụng, ích kỷ và thiếu tình người qua hành động và sự giải thích của Hoàng An. Những người như Hoàng An luôn cảm thấy bất an trong tâm hồn và điều này được cho thấy qua sự biện minh của Hoàng An. Hoàng An là người luôn muốn chiến thắng và sống bề ngoài để cho thấy rằng mình là người hoàn hảo, nhưng chính sự không chân thật và thiếu khiêm tốn này sẽ làm cho Hoàng An rất cô đơn.

Nếu có thời gian, xin tìm đọc tiểu thuyết "The Death of Ivan Ilych" để thấy sự phân tích của tôi về nhân cách của con người. Tôi không tin rằng Hoàng An có thể thay đổi cách sống và nhìn nhận của mình trong thời gian ngắn vì Hoàng An đang chìm đắm trong chiến thắng và sự tự mãn của mình khi chua nhìn thấy hậu quả về mặt tâm lý cho Hoàng An va chính con gái của Hoàng An.

Ba tôi ngày xưa cũng từng rất thành công trong sự nghiệp và cũng từng rời bỏ mẹ con tôi sau 15 năm gắn bó vì một người đàn bà khác. Mẹ tôi cũng như chị Violet là người phụ nữ hiền lành và nhịn nhục chịu thương chịu khó. Mẹ tôi cũng như chị vẫn yêu cầu tôi đối xử với ba tôi và mẹ kế bằng sự tôn trọng và thương yêu.

Tôi sống và vượt qua thời gian ấy chính là nhờ nhìn thấy sự mạnh mẽ và cả những đau khổ mà bà phải trải qua, và tôi tin rằng mẹ tôi cũng thế. Tôi còn may mắn hơn là được hai bên gia đình rất thương yêu và chăm sóc. Năm 17 tuổi, tôi được sang Mỹ học và tôi đã quyết tâm phải thành công để chăm sóc mẹ sau này. Thời gian ấy thật vất vả cho hai mẹ con nhưng nhờ cả gia đình bên Việt Nam và bên Mỹ chăm sóc mà chúng tôi đã từng bước vượt qua khó khăn.

Ba tôi đã rơi vào cảnh phá sản, phải bán cả nhà tổ tiên để trả nợ. Tôi còn nhớ lần cuối cùng gặp ông, ông đã cầm tay tôi nói rằng: "Mẹ con là một người phụ nữ tuyệt vời, chỉ trong một phút sai lầm của cuộc đời mà ba đã đánh mất tất cả". Nói rồi ông khóc. Đó là lần đầu tiên tôi thấy ông khóc. Không phải lúc ông quyết định ly dị với mẹ tôi mà là sau khi ly dị.

Có lần mẹ tôi bệnh, ông đã lén lút gọi tôi ra đưa cho tôi tô phở ông mua sẵn, dặn dò tôi đủ điều phải chăm sóc cho mẹ, và nhất là đừng để cho mẹ kế tôi biết. Mẹ kế tôi rất trẻ, khi gặp mặt cũng niềm nở, cũng ra vẻ chiều chuộng con chồng, có một điều là bà ấy chưa bao giờ dám tự hào khoe khoang như Hoàng An vì cả gia đình bà ấy va nội tôi kịch liệt phản đối mối quan hệ ấy.

Tôi biết ba tôi vẫn yêu mẹ, và có những điều đã trở thành thói quen đối với ông sau bao năm chung sống với mẹ, những thói quen và cảm giác không thể mất đi. Những trăn trở và đau khổ của ba chỉ có tôi biết vì ông chưa bao giờ để lộ nó ra cho mẹ tôi cũng như mẹ kế biết. Khi tôi về đón mẹ sang Mỹ nhập cư, ba tôi thẫn thờ như người mất hồn. Ba tôi không cho mẹ bán nhà vì sợ mẹ sẽ không còn gì vướng víu để về nữa, vậy là mẹ tôi quyết định không bán nhà để ba tôi yên tâm. Đó là năm tôi 23 tuổi.

Hai năm sau ông mất vì bệnh ung thư. Mẹ con tôi không kịp về gặp ông lần cuối. Ông chết không nhắm mắt như muốn chờ đợi mẹ tôi về để được gặp bà, chỉ kịp để lại dòng chữ viết nghệch ngoạc tên mẹ tôi và tên ông. Khi quyết định bán nhà, mẹ tôi được người hàng xóm cho biết ba tôi ngày nào cũng ghé về ít phút rồi vội vã ra đi. Mọi thứ trong căn nhà đều được sắp xếp ngăn nắp hệt như ngày nào chúng tôi đã từng sống cùng nhau.

Đám tang ba, bà nội tôi đã cấm không cho mẹ kế va đứa em gái chỉ mới 4 tuổi cùng cha khác mẹ được đến dự và đeo tang. Vậy mà bà ấy vẫn dắt con đến trong dáng vẻ tiều tụy và đau khổ. Ba nội tôi giận dữ đã tát và mắng bà ấy trước mặt mọi người. Chỉ có duy nhất mẹ tôi lao ra ôm bà tôi, khóc và quỳ xuống xin bà tôi hãy tha thứ và bỏ qua.

Sau này tôi biết mẹ tôi vẫn hay giấu tôi gửi tiền và quà cho mẹ kế để lo cho con, nhưng tôi làm như không biết. Vì tôi biết đó là niềm vui và an ủi của mẹ để xoa dịu sự ra đi của ba tôi. Tôi luôn nhớ như in câu nói của mẹ khi ba mẹ ly dị nhau: "Thôi bỏ đi con, tha thứ đi con. Con từng thấy xương cốt của một người chết chưa? Mẹ từng đi hốt cốt của ông ngoại con, con có biết không, người ta sống đẹp đẽ là vậy, quý phái là vậy, mà khi nằm xuống ai cũng như ai thôi con à, chỉ là những khúc xương trơ trọi, không đem theo được gì cả, có chăng để lại là cái đức cho con cháu mình thôi". Vậy là tôi đã quyết định theo học ngành tâm lý với mong muốn có thể hiểu và giúp được cho những người xung quanh giảm đi những tổn thương về mặt tinh thần và sống hạnh phúc hơn.

Chị Violet, chị là một người phụ nữ rất mạnh mẽ, nghị lực và đầy lòng nhân hậu. Thật cảm ơn chị đã có thể dành thời gian để chia sẻ tâm sự của mình với mọi người. Chị đã sống hết lòng vì chồng cũ, vì con cái, và vì tất cả mọi người xung quanh mà quên đi bản thân mình. Để có thể vượt qua một cú sốc và sự thay đổi rất lớn trong cuộc đời mà chị vẫn có thế nén những đau thương của chính bản thân để lo cho con cái và thậm chí còn quan tâm đến chồng cũ của chị thì chị không hề là người phụ nữ tầm thường đâu.

Trong câu chuyện này, chị mới là người đáng khâm phục nhất và cũng là người chiến thắng trong cách đối nhân xử thế để có được sự bình thản trong tâm hồn. Xin lưu ý rằng sự thanh thản mà chị Violet có được là vì do cách sống, nhìn nhận, và bản tính vị tha của chị chứ hoàn toàn không phải do Hoàng An đã tự nhận mình ban phát và giải phóng cho chị.

Chị Violet ơi, xin hãy đừng lo rằng chị sẽ sống cô đơn khi về già, vì con cái sẽ không bao giờ bỏ chị đâu, và cũng đừng lo rằng chị sẽ là gánh nặng cho chúng. Có được người mẹ như chị là một niềm tự hào và hạnh phúc lắm đấy, không phải dễ gì mà kiếm được đâu chị ạ. Em cũng tin rằng trong con mắt của mọi người, kể cả chồng cũ của chị đó, chị mới là người phụ nữ đẹp nhất đấy vì anh biết rõ con người và sự nhân hậu của chị. Ai mà không cảm phục một người phụ nữ như vậy chứ. Em xin chúc cho chị và những người vợ, người mẹ chân chính như chị luôn luôn có nhiều sức khỏe và hạnh phúc. Chúc cho các cháu được thành đạt và thật nhiều may mắn.

Xin cám ơn tòa soạn và bạn đọc đã dành thời gian đọc những chia sẻ của tôi. Chúc sức khỏe và hạnh phúc đến với tất cả mọi người.

Sophia

Sunday, August 30, 2009

A Singapore Taxi Driver's Diary

Probably the only taxi driver in this world with a PhD from Stanford and a proven track record of scientific accomplishments, I have been forced out of my research job at the height of my scientific career, and unable to find another one, for reasons I can only describe as something "uniquely Singapore". As a result, I am driving taxi to make a living and writing these real life stories just to make the dull job a little more interesting. I hope that these stories are interesting to you too.

http://taxidiary.blogspot.com

Since the takeover of leadership by some western “big shots” a few years ago, the Institute of Molecular and Cell Biology (IMCB) of ASTAR, Singapore, a place I have worked for 16 years as a PI (principal investigator), a place that was once flourishing, promising, and pleasant to work in, has been in a mess. Bestowed with the kind of power they had never seen before, these once reputable scientists turned everything in the institute upside down. The previous democratic and consensus-oriented management system that had worked well for more than a decade in the past was thrown out of window and replaced by one that was marked by domineering, manipulation, and incompetence. What they lacked in experience of management, adequate understanding of the institute, and proper respect for fellow scientists as their colleagues, they made up for in arrogance, prejudice, and naked muscle of political power. Some PIs were sent packing, and some were promoted, all up to the new leadership’s manipulative and twisted standards. Despite my considerable contribution to building up this place into what it is today, I was among the first few PIs to be told to go. My employment contract with IMCB was terminated by May, 2008, without any forms of compensation given.

I was hence forced into a deeply difficult position. Becoming jobless at my age is perhaps the worst nightmare that can happen to any ordinary man, not to mention the loss of life-long career. Ever since I was informed of their decision sometime in 2007, when the economy was still booming, I had been trying hard to find a job. I had submitted countless CV and application letters to various places in Singapore including universities, government agencies, and private companies. Most of them, however, never responded. A couple of replies I did receive never materialized into anything positive. Later, the outburst of financial crisis world wide helped extinguish my last hope of finding a job anytime soon. By November 2008, I finally made a decision to become a taxi driver.

At the time like this, the taxi business is probably the only business in Singapore that still actively recruits people. I signed up for a training course run by a government-linked transport company in November, with a course fee of nearly $280. On paper, the Express Taxi Driver’s Vocational License Course, or TDVL, is supposed to run six days a week, five hours a day. But in reality, the daily course never lasted longer than 3 hours. The whole purpose of the course was to help you pass the test and get the license. It was divided into five sections, Rules and regulations, Routes and landmarks, Names and locations of buildings, Defensive driving, and General paper, which included subjects such as highway codes, vehicle maintenance, healthy living, etc. The instructors were either veteran taxi drivers or representatives from government agencies such as Land Transport Authority (LTA).

My class started on 1st of December, 2008, which consisted of more than 30 people. There were three classes running at the same time and all were about this size. The course was very easy. Every day, the instructors told us what to highlight on the manual and asked us to memorize them because these were the materials that were going to be tested. As long as you did that, it was impossible to fail the test. Even if you fail, you still have one year to take an unrestricted number of retest. With such ease, no wonder there are nearly 100,000 people possessing taxi driver’s license today in Singapore, almost 3 for every 100 Singapore citizens, children and infants included.

By the end of February this year, I finally received my taxi driver’s license, and thus began my new taxi driver’s career. This blog records some of the events that I have experienced as a taxi driver. They are all actual events and are presented as truthfully as possible. Special precautions have been taken to avoid revealing any specific information which may help in any way the identification of the persons described in these events. The purpose of this blog is to provide readers with the first hand accounts of my experience of converting from a veteran scientist to a rookie taxi driver in today’s Singapore. The views and encounters described in this blog may be insignificant, isolated, or biased. Nevertheless, I am sure some readers will find this blog interesting and helpful in widening their general perspectives on Singapore.

Finally, I want to thank my family for their trust and support, and for always being at my side to endure with me the trauma, the distress and the anxiety caused by my job loss. I also want to thank all of my customers, especially the ones who have shown their grace, kindness, and understanding to me when I made mistakes during my work. They are the important factor to encourage me to carry on.

(extracted from his blog)

Cuộc đời bi kịch của Triệu phú xổ số tuổi teen

Callie Rogers, cô gái 22 tuổi người Anh từng trúng xổ số lên tới 1.9 triệu bảng (gần 4 triệu USD) năm 16 tuổi đang phải đối diện với cảnh không xu dính túi và từng trải qua những năm tháng cuộc đời đầy nước mắt.



Callie Rogers năm 16 tuổi khi giành phần thắng lên tới gần 4 triệu USD

Hiện nay, mặc dù Callie Rogers đang sống với mẹ và làm nghề lau dọn, nhưng cô cho rằng cô đang rất hạnh phúc, cô hoàn toàn vui sướng khi được sống trong cảnh nghèo khổ.

Cuộc sống của Rogers đã hoàn toàn thay đổi kể từ ngày cô trở thành một trong những người trẻ tuổi nhất nước Anh trúng xổ số vào tháng 7 năm 2003, và tính đến nay, cô đã tự tử hụt đến 2 lần.

Rogers nói với một người bạn rằng:“Cuộc sống của tôi thật giống như một cái lò mổ, tiền bạc không mang lại cho tôi một chút hạnh phúc nào. Nó chỉ phá hủy cuộc sống của tôi mà thôi”.

“Tôi chỉ muốn làm cho mọi người hạnh phúc bằng cách tiêu tiền cho họ. Nhưng điều đó không làm cho tôi vui chút nào. Nó khiến tôi lo lắng khi mọi người chơi với tôi chỉ vì tiền của tôi”.

Giờ đây “triệu phú xổ số” chỉ lái chiếc xe cũ hiệu VW Golf và đang rao bán căn nhà 180.000 bảng của mình tại Whitehaven, Cumbria.

Rogers cần phải có đủ 3000 bảng tiền mặt để trả cho cố vấn pháp luật nếu không cô sẽ trở nên phá sản hoàn toàn.

Bố mẹ của Rogers là Jeff Rogers và Susan Jenkinson hiện đang sống ly thân tại High Harrington, Cumbria từ chối bình luận về những tuyên bố của cô.

Với số tiền kếch xù may mắn có được, Rogers đã mua tới 4 căn nhà đầy đủ tiện nghi cho mình, cho bố mẹ, ông bà với trị giá 550.000 bảng và dành 200.000 bảng cho những kì nghỉ xa hoa.

265.000 bảng khác được Rogers chi cho chiếc xe hơi đắt tiền, quà tặng và “hào phóng” trả nợ cho các thành viên trong gia đình. Rogers còn vung tay tới hơn 450.000 bảng cho quần áo, tiệc tùng và nâng ngực.

Những chi tiêu khác bao gồm 188.000 bảng tiền quà cho bạn trai, 70.000 bảng tiền phí và một quỹ từ thiện dành cho trẻ bị bệnh sáu ngón.

Dù đã từng có nhiều tiền, nhưng rồi Callie Rogers đã không thể tìm thấy hạnh phúc từ sự giàu có mà cô từng có...

Có tiền trong tay, Callie Rogers bắt đầu lao vào một cuộc tình sóng gió với Nicky Lawson, có hai đứa con (một trai, một gái) nhưng sau đó cô đã tự tử hụt bằng thuốc ngủ khi phát hiện ra anh ta ăn cắp tiền và quan hệ với em gái của mình.

Đến tháng 12 năm ngoái thì người bạn trai thứ hai của Callie bị bắt vì liên quan đến cocaine và bị phạt ngồi tù 2 năm. Callie cũng bị bắt vì nghi ngờ là tòng phạm, nhưng sau đó đã được thả ra. Trước khi bị bắt, Callie còn tự tử bằng cách rạch tay và cũng không thành.

Trải qua 6 năm sống trong tiền bạc và nước mắt, làm bà mẹ đơn thân của hai đứa con khi tuổi đời mới chỉ 22, cuối cùng, Rogers nghiệm ra rằng: “Bạn sẽ không nhận ra được tất cả những áp lực bạn sẽ phải chịu đựng cho đến khi bạn trúng số tiền thưởng lớn như thế. Tôi chỉ ước rằng tôi chưa bao giờ thắng, vì tôi không có khả năng đối đầu với nó”.

Hiền

Theo Daily Mail

Thursday, August 13, 2009

Dã ngoại trên đảo rác ở Singapore

TTCT - Nhân chuyện bãi rác Đa Phước ở TP.HCM vẫn nóng hổi, đầy bức xúc và còn nhiều tranh cãi, CTV tuổi trẻ cuối tuần đã có dịp đến tận nơi đổ rác độc đáo của Singapore và tìm hiểu kinh nghiệm.

Du khảo theo con nước - Ảnh: National Environment Agency

Nơi đây, con đường đá xanh phủ nhựa với hàng dương gợi nhớ bãi biển Long Hải, các rặng cây đước nhìn không khác lắm bãi biển bồi Cần Giờ, sao biển và vài loại thân mềm khác trông giống ở biển Nha Trang, còn nước biển màu xanh tựa như biển Cà Ná.

Chôn rác giữa biển khơi

Nơi đây cách mấy bãi biển vừa nêu của Việt Nam ngót nghét hai giờ bay. Đó chính là hòn đảo chôn rác nhân tạo Semakau Landfill - bãi chôn rác duy nhất hiện nay của Singapore, 8km theo đường chim bay ngoài khơi bờ biển phía nam đảo quốc sư tử.

Giới chức Singapore tự hào đây là trường hợp đầu tiên trên thế giới (khi bắt đầu hoạt động mười năm trước) một bãi chôn rác nằm hoàn toàn giữa biển khơi được tạo ra. Dĩ nhiên, chi phí chẳng hề rẻ chút nào: tổng kinh phí xây dựng Semakau Landfill lên đến 610 triệu đôla Singapore (khoảng 7.500 tỉ VND).

Bắt đầu hoạt động năm 1999, Semakau Landfill có tổng diện tích 350ha và có thể chứa 63 tỉ m3 rác. Tính trung bình với khoảng 12,5 triệu đôla Sing mỗi năm (khoảng 155 tỉ VND), người Singapore sẽ không còn phải đau đầu về chuyện tìm chỗ đổ rác ít nhất đến sau năm 2045 (theo Tuổi Trẻ, ngày 9-7-2009, chỉ riêng chi phí xử lý rác của bãi rác Đa Phước ở huyện Bình Chánh (xử lý chôn lấp) đã 1,5 triệu USD mỗi tháng, nghĩa là phải tốn 18 triệu USD một năm (khoảng 320 tỉ VND).

Đường đi của rác

Thật ra bãi rác Semakau Landfill không hoàn toàn là nhân tạo. Ban đầu đó chỉ là hai hòn đảo thiên nhiên nhỏ xíu gọi là Pulau Semakau và Pulau Sakeng nằm gần nhau. Người ta cho xây một bờ kè dài 7km như một bức tường thành để nối hai đảo và ngăn cách phần biển quanh hai hòn đảo này với biển khơi bên ngoài. Phần biển trong bờ kè được phân thành nhiều ô nhỏ (cũng bởi các bờ kè). Rác được đổ vào các ô này đến khi đầy, hết ô này đến ô khác, hết năm này sang năm khác.

Tất nhiên, câu chuyện đổ rác không hề đơn giản như vậy. Rác đổ tại bãi lộ thiên Semakau không phải là rác theo cách thường thấy ở TP.HCM. Gọi đó là tro rác mới chính xác. Để có thể đến được “nơi an nghỉ cuối cùng” tại đảo Semakau, tro rác phải trải qua một đoạn đường khá phức tạp như sau:

Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp...). Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro. Cuối cùng, mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill.

Như vậy về khối lượng, từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn. Trong khi đó, mỗi ngày TP.HCM thải ra khoảng 8.000 tấn rác (chỉ bằng 1/2 Singapore) nhưng lại phải tìm chỗ chôn lấp cho ngần ấy số rác (gấp bốn lần Singapore).

Chưa hết, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore.

Câu cá thể thao trên đảo rác - Ảnh: National Environment Agency

Giữ môi trường quanh đảo rác

Về nguyên tắc, sau khi bị thiêu hủy ở nhiệt độ cao, tro rác không còn là một hiểm họa tiềm tàng. Tuy nhiên để bảo đảm tro rác không xâm hại môi trường đại dương xung quanh, bờ đê ngăn bãi rác với biển được thiết kế nhiều lớp gồm đá, đất sét ở biển (marine clay) và các lớp màng đặc biệt nhằm ngăn chặn nước rỉ rác còn sót lại trong tro rác (nếu có) thẩm thấu vào nước biển.

Hằng ngày, tro rác từ các nhà máy đốt rác được tập trung tại trạm trung chuyển Tuas ở bờ biển phía nam Singapore. Từ đây, các sà lan chở tro rác được tàu kéo di chuyển trên quãng đường dài 25km vượt biển để cập bến Semakau Landfill. Sà lan được thiết kế với nắp đậy kín để ngăn tro không bay ra biển trong quá trình vận chuyển.

Tại Semakau, các sà lan tro rác được đưa vào bên trong nhà trung chuyển có mái che. Trong đó, đội xe xúc bốc tro rác đổ đầy các xe tải chở được 35 tấn, mỗi chiếc có nhiệm vụ đổ tro rác đến các ô trống trên “đảo rác”.

Bốc tro rác từ sà lan - Ảnh: National Environment Agency

Du lịch dã ngoại ở đảo rác

Ý tưởng về bãi rác giữa đại dương đã được Đài truyền hình CNN tường thuật dưới tiêu đề: Lời giải sinh thái - thử nghiệm những sáng tạo trong kỹ thuật xanh. Nhưng còn chuyện cắm trại giữa bãi rác này thì sao?

Đã quen với việc các khu vui chơi giải trí ở quê nhà làm chuồng cho muông thú để khách tiêu khiển, một nhà báo Việt Nam khi thăm Semakau thắc mắc các loài chim và thực vật trên đảo rác này lấy từ đâu? Câu trả lời: “Tất cả đều là sinh vật tại chỗ, một số loài thực vật được gió phát tán hoặc chim trời mang đến”.

Tại “Semakau mới”, hai khu rừng đước rộng 136.000m2 được trồng để bù lại số cây đước tự nhiên bị ảnh hưởng khi xây dựng hòn đảo nhân tạo. Ngoài việc đóng vai trò tái tạo quần thể cây đước tại đây, loài thực vật này còn là “cây chỉ thị” cho chất lượng nước xung quanh hòn đảo - nếu cây kém xanh tươi, tất nước “có vấn đề”.

Bốn năm trước, tháng 7-2005, khi dự buổi lễ khai trương Semakau, Bộ trưởng Môi trường và tài nguyên nước Singapore Yaacob Ibrahim muốn có một nơi dã ngoại ngoài khơi “bờ biển” Singapore. Sau đó, “bãi rác” này đã trở thành nơi cắm trại với nhiều loại hình tiêu khiển ngoài trời như: du khảo theo con nước (intertidal walks) để tìm hiểu sinh cảnh biển khi nước triều xuống, ngắm chim, ngắm sao đêm, câu cá thể thao. Đặc biệt, từ năm 2006 Semakau đã có thiết bị phát điện bằng năng lượng gió và mặt trời đủ cung cấp năng lượng chiếu sáng cho các buổi cắm trại đêm và máy tính xách tay.

Theo quy hoạch, khi bãi rác này đóng cửa vào khoảng năm 2050, Semakau Landfill sẽ hoàn toàn trở thành hòn đảo xanh với những ngọn đồi mấp mô và hồ nước trên đồi - một hòn đảo sinh thái dành cho du lịch.

Sơn Tùng

Friday, July 17, 2009

Tỵ nạn giáo dục

Đứa trẻ mới 5 tuổi, đi mẫu giáo về, tối đã phải đi học thêm. Học để làm gì? Có trời mới biết nhưng mà cha mẹ em này nhìn vào cha mẹ em khác mà âm thầm đua nhau.

Học để khi vào lớp Một, con mình hiển nhiên nổi trội hơn con cái những người không có điều kiện học thêm. Và chuyện học thêm ở đâu mới thật nan giải. Nhưng đã tìm thì phải ra, bởi ở đời, khi người ta đã muốn thì người ta sẽ có cách. Các cô giáo dạy lớp Một có tiếng nhất định sẽ đắt hàng.

Ở Hà Nội mùa học trước thềm lớp Một đúng vào những ngày nóng bức nhất. Không ít cô lớp Một mua được đất riêng nhưng dù nhà lầu đi nữa thì hàng trăm em bé cũng phải chịu cảnh “xếp cá mòi” vào những giờ thông tầm giữa hai buổi học. Tuổi thơ của trẻ con Việt Nam nói chung bị thun lại một cách dị thường là vì ngay từ khi lớp Một, các em đã phải hy sinh cho thành tích của người lớn.

Bắt đầu một cuộc chạy trường mất ăn mất ngủ. Chém cha những gã nào đã nghĩ ra trường điểm trường chuyên, không ít phụ huynh đã nguyền rủa như vậy nhưng họ không trốn được cảnh chạy trường.

Ở Hà Nội, nhiều người giàu và cũng nhiều người quan niệm sống chết cho việc học của con nên họ đã phải chuẩn bị hàng xấp đô la để con mình được vào lớp Một sáng chói. Và cũng từ đó cả nhà cùng thức khuya dậy sớm với con em như thể đi cày. Phải trừ hao thời gian cho nạn tắc đường, phải ăn sáng hộc tốc, phải xếp hàng vào lớp sớm để còn rèn luyện thân thể. Và học, học cả hai buổi mà về nhà vẫn còn hàng đống bài phải học cho xong!

Một bài tập ở nhà trong học kỳ I cho học sinh lớp Một có nội dung sau: “Hãy viết 10 điều nên và 10 điều không nên về việc giữ gìn vệ sinh lớp học”. Một đứa trẻ 6 tuổi phải nghĩ ra 20 điều nên và không nên cho chuyện giữ gìn một phòng học chỉ có mấy bức tường, mấy cửa sổ, mấy dãy bàn ghế và một tấm bảng ư? Cả nhà xúm vào cùng làm bài với em đến khuya mà vẫn không đủ 10 điều cho mỗi cột.

Nên và không nên thì khác gì nhau, đã nên rồi thì đừng bắt không nên nữa mới đúng là giáo dục chứ! (Tương tự kiểu giáo khoa thư giáo điều như vậy còn có đề ngoại khóa cho học sinh lớp Bốn: “Hãy viết cảm nhận của em về trận Điện Biên Phủ trên không?”. Một học sinh lớp 12 còn không kham nổi loại đề như thế, nữa là).

Chuyện trồng người ở nước ta viết bao nhiêu cũng không hết sự ngô nghê, lạc hậu buồn cười, nhưng nói thì dễ thành “Biết rồi khổ lắm nói mãi!”. Nhưng đây là chuyện hệ trọng còn hơn cơm áo, bởi vì gia đình nào cũng có người liên quan đến việc học. Hơn nữa, người Việt Nam ta còn có câu “nhất con nhì của” và tinh thần hiếu học của người Việt thì đã được cả thế giới ghi nhận chứ không phải dân mình tự xưng.

Chừng như các nhà vĩ mô, các vị chức sắc và cả các thầy các cô cũng biết rõ điều đó nên bộ máy ngành giáo dục đã tận dụng tối đa sự xả thân của phụ huynh cho việc học của con em họ. Ở vị thế bị trấn lột, bị tung hứng, các bậc phụ huynh biết rõ mình đang là miếng mồi nhưng không phải ai cũng có điều kiện để thoát ra.

Xin đừng tưởng những người có ăn có để ở thành phố đang thoát ra bằng cách cho con vào các trường quốc tế tại chỗ hay đi du học. Quả là với các loại trường quốc tế tại chỗ, học sinh đã được học ngoại ngữ tốt hơn, được thụ hưởng điều kiện học hành ưu thế hơn và được giảm tải với chương trình của Bộ Giáo dục. Nhưng để đổi lấy những điều đó, cha mẹ của các em đã phải dập mặt kiếm tiền, mà để có đồng tiền sạch ở xứ ta, nào dễ.

Với những em phải du học sớm, cho dù các em được hít thở mọi thứ nhưng cái giá cho chính các em cũng không phải nhỏ. Đó là sự cắt rời cha mẹ ở tuổi vị thành niên, sự đứt gãy văn hóa truyền thống và tiếng Việt, những điều làm nên một người Việt Nam thực sự hương vị ở tương lai.

Lợi bất cấp hại nhưng càng ngày càng có nhiều người đã bấm bụng cho con mình có được môi trường học hành không vẩn đục. Ngẫm kỹ, dù vào trường quốc tế tại chỗ hay bằng mọi cách cho con cái đi ra nước ngoài, với người Việt của thời điểm này, nhất định đó không phải từ ý thức vọng ngoại mà thuần túy là một cách tỵ nạn mà thôi.

Chắc không nhiều những nơi trên trái đất này người ta tiễn người nhà của mình đi học bằng nỗi ngậm ngùi: tôi không vọng ngoại, tôi cũng không sính ngoại, tôi không chơi tiền, tôi chỉ muốn con mình được một chữ học đúng nghĩa.

Dạ Ngân
Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

Wednesday, July 15, 2009

Address at Afternoon Exercises

As delivered

Distinguished guests, graduates and families, alumni and alumnae, colleagues and friends – and Secretary Chu, welcome.

It is customary on this occasion for the president to talk about the year that has passed, to report on the University’s achievements and directions to gathered alumni/ae and friends. This June, I have quite a year on which to reflect — a year of unanticipated and dramatic change.

Perhaps I should have realized that something unusual was afoot when the freshmen were greeted their first night at Harvard in September with a blackout in the Yard. Within weeks, financial markets were in turmoil, venerable firms began to fall, and we watched trillions of dollars of wealth disappear around the globe. Nine months later, we inhabit a new world — one of changing structures, assumptions, and values as well as changed resources. Few expect a return anytime soon to the world we had come to take for granted just a year ago.

We graduate a class of seniors from the College today who, according to The New York Times, face the most difficult job market in decades. We award professional degrees to students entering fields that are searching for new moorings as they face demands for changed regulation, compensation, and public purpose. And we see the roles and resources of universities changing as well in this environment of global crisis. It is clear we have never been more needed. We have watched as Harvard became a kind of employment bureau for the new administration in Washington. As the White House seeks solutions for the economic downturn, for climate change, health care delivery, regulatory reform, and K-12 education, it has called so many of our faculty to service that Senator Susan Collins of Maine was prompted to ask at the confirmation hearing of one of our colleagues whether any Law School faculty members were left in Cambridge. And not just our faculty but many of our alumni have been drafted as well, occupying numerous cabinet and subcabinet posts — and of course the Oval Office itself.

Knowledge — and people with knowledge — are critical to addressing the challenges that face us. This is what we do as a university; this is who we are. We produce knowledge, and we disseminate it — as we teach our students, as we share the fruits of our research. The new president has declared that the United States must support “colleges and universities to meet the demands of a new age,” and must, he has said, “restore science to its rightful place,” and must lead the world in research and discovery. His Secretary of Energy, our speaker Steven Chu, has reinforced this message, predicating our prosperity as a nation in the years to come upon, he has said, our “ability to nurture our intellectual capital.”

But even as we reaffirm the importance of universities and their work, we have begun to see that we need to do this work differently. At Harvard, as at our peer institutions, we confront changed circumstances that require changed strategies. As a university community we have spent a great deal of time this year focused on these difficult new realities — beginning to decide what we can and must live without. For all this work, we are still at the outset of a process that will define Harvard’s future and, as our peers undertake similar exercises, the future of higher education. But as we come to the end of this year of change and adjustment, we must focus not on what we have lost, but on what we have. It is time to think of ourselves not so much as objects of a global economic crisis beyond our control, but as heirs of a nearly 400-year-old institution that defines academic excellence for much of the world. In the halcyon days of my installation a year and a half ago, I spoke about that accountability — what we at universities owe one another as teachers, students, and scholars and what we as universities owe the world. These responsibilities, this accountability, have now been magnified by the times that confront us. We cannot simply serve as stewards or curators of Harvard’s storied traditions and proud distinction. We must define and shape the purposes of universities for a changed future.

The distinguished medieval historian Caroline Bynum once observed that “change is what forces us to ask who we are.” What is ephemeral? What is essential? What is just habit? Our accountability — to Harvard, to one another, and to higher education — means that we must ask these questions and we must seize the moment of change and opportunity before us. Change can happen to us — or through us. We must make sure we become its architects, not its victims. We must ask ourselves what it is we want to be on the other side of recession and crisis — when the world has reached what we might call a new normal. How should we envision ourselves and our purposes?

These are questions that demand planning and consultation across the University and these processes are under way. They are questions that require decisions and trade-offs from every part of the institution. Each specific choice will have its own impact and significance. But I want to draw our attention today to the meaning of the accumulation of these decisions — a sum far more consequential than any of its parts. These choices, taken as a whole, will constitute our statement of what we at Harvard believe the research university of the 21st century should and must be.

I want to focus for a few minutes on three essential characteristics of universities. Only three. These brief reflections cannot possibly touch on all that we must do and be in the future. But I have chosen these three because they represent especially important and long-lived understandings of our identity — of responsibilities and opportunities that must continue to guide us. But I also want to note the very real challenges we face — as universities and as a nation — in sustaining these commitments in a world that the past year has redefined.

First: American universities have long been regarded as engines of opportunity and excellence. Education has been central to the American dream since the time of the nation’s founding. Yet as we all know, rising college costs have increasingly strained the resources of average American families. Keeping higher education affordable is crucial to the nation and crucial to Harvard. Opportunity is about fairness; it is also about excellence. We must be a magnet for talent.

We have acted decisively on these convictions. Over the past five years, we have created a transformative undergraduate financial aid program meant to ensure that every student of ability can aspire to attend Harvard College regardless of financial circumstances. And over the past decade, we have tripled levels of financial aid offered by our graduate and professional Schools as well. Our support for students of talent is an essential part of our identity, because we believe that the best ideas do not come from a particular social class or ethnicity or gender or place of origin. Providing broad access is a fundamental dimension of our responsibility and our legitimacy — in our own eyes, given our strongly meritocratic values, and in the eyes of a broader society that provides us with the support of tax exemptions and research dollars. Even as rising need among students and diminishing resources from our endowment have made these commitments increasingly costly, we must affirm these principles of access and opportunity as defining aspects of who we are.

Just as we are committed to bringing the brightest minds to fill our classrooms, so we must continue to invest in exceptional faculty to lead them and to pursue the work of discovery that defines Harvard as a preeminent research university. Even in the face of constrained resources we must sustain and build this faculty for the future. Talented students and talented faculty require one another. Let us make sure that we succeed in continuing to attract and nurture both.

The second aspect of university identity I want to address is the role of universities as the primary locus for both basic and applied research in the United States. In the years after World War II, federal policy established structures of scientific and social scientific inquiry based on a partnership between government and research universities. Research and development drew limited investment within private industry, and in recent years even these modest levels have declined in a trend best symbolized by the contraction of the storied Bell Labs, which in an earlier era enabled basic research like the Nobel prize-winning discoveries of our honorand Steven Chu.

But even as private industry’s commitment to research declined, so too did government support for science. Over the last three decades, federal funding dedicated to research and development has actually decreased, as a proportion of our GDP, by more than 15 percent. The federal stimulus offers a reprieve from this trend — with an infusion of 21 billion dollars to be spent over the next two years, and the administration has set a goal of devoting more than 3 percent of GDP to research and development even as the stimulus comes to an end. But steep federal deficits will combine with diminished university resources to produce real challenges in meeting this very ambitious intention. Even before the economic downturn, the model for supporting science needed overhaul. As a report from the National Academies warned in 2007, we as a nation were already facing a “gathering storm” in which too few students were choosing science; too few were finding the support necessary to launch and sustain their careers; too many were choosing safe and predictable research in order to secure funding; too few were able to follow their curiosity in pursuit of truly transformative ideas. The financial crisis has only laid bare problems already evident about the future of scientific research in the United States and about the support for science at our research universities.

The short-term lift of stimulus funds must not divert us from seeking long-term solutions. Federal funding levels are a critical part of the answer but they are only a part. For example, as we here at Harvard contemplate how to support science in these changed economic circumstances, we find ourselves thinking about new kinds of partnerships with foundations and industry, as well as with neighboring educational institutions. Already, we see collaborations across Harvard Schools, with affiliated hospitals, with the Broad Institute, with MIT, and with other universities as essential to our current and evolving work in stem cells, neuroscience, genetics, and bioengineering. And as we consider how to make our Allston dreams affordable, partnerships beyond Harvard offer great promise. If we — as Harvard and as universities more generally — are going to sustain our pre-eminence in scientific discovery we must devise new ways both to conduct and to support research.

Third: universities serve as society’s critics and conscience. We are meant to be producers not just of knowledge but of doubt — of understanding rooted in skepticism and constant questioning, not in the unchallenged sway of accepted wisdom. More than perhaps any other institution in our society, universities are about the long view and about the critical perspectives that derive from not being owned exclusively by the present.

For nearly four centuries now, Harvard has looked beyond the immediately useful, relevant, and comfortable to cast current assumptions into the crucible of other places and other times. Universities are so often judged by their measurable utility — by their contributions to economic growth and competitiveness. We can make a powerful case with such arguments. Harvard is the second largest private employer in the Boston metropolitan area, and it directly and indirectly accounted for more than 5.3 billion dollars in economic activity for Massachusetts last year. But such contributions are only a part of what universities do and mean. We need universities for much less immediate and instrumental ends.

I worry that we as universities have not done all we could and should to ask the deep and unsettling questions necessary to the integrity of any society. As the world indulged in a bubble of false prosperity and materialism, should we — in our research, teaching and writing — have done more to expose the patterns of risk and denial inherent in widespread economic and financial choices? Should our values have posed a firmer counterweight and challenge to excess and irresponsibility, to short-term thinking with long-term consequences?

The privilege of academic freedom carries the obligation to speak the truth even when it is difficult or unpopular. So in the end, it comes back to veritas — the commitment to use knowledge and research to penetrate delusion, cant, prejudice, self-interest. That truth may come in the form of scientific insights freed from ideology and politics. It may come in the interpretive work of humanists who show us how to read and think critically and offer us the perspective of other places, other tongues, and other times. It may come through the uniquely revisionary force of the arts — which enable us to understand ourselves and the world through changed eyes and ears. It may come through placing questions of ethics and responsibility at the core of our professional School programs. In fact, in recent weeks a group of students at the Business School have created an MBA oath pledging graduates to “serve the greater good.” Asking how business schools and their graduates might have done more to avert the financial crisis, these students seek to encourage conscience and critical consciousness in both business education and business as a profession.

The enhancement of our role as critics and doubters must come as well through the education of our undergraduates, where we seek, in the words of the new General Education program, “to unsettle presumptions, to defamiliarize the familiar . . . to disorient young people and to help them to find ways to reorient themselves.” As we adapt to a rapidly changing world, we must build anew on Harvard’s long traditions of liberal arts education and of humanistic inquiry. These traditions can generate both the self-scrutiny and self-understanding that lead through doubt to wisdom.

Universities as engines of opportunity; universities as the principal sites of America’s scientific research; universities as truth tellers: these are three fundamental aspects of our understanding of ourselves. Yet each faces challenges in the new era that lies ahead of us — challenges of structures, of affordability, and of values. And we are challenged in turn to demonstrate our commitment to these principles, which have so long been at the heart of how we have defined ourselves. We must not take these principles for granted, and we must not lose sight of them as we make the many choices about what to keep and what to forego in the months ahead. But we must devise new ways of sustaining them for changed times. We are accountable to and for these traditions and the values they represent — the belief that the open and unfettered pursuit of truth will build a better world for us all. This is what inspires all that we do and all that we are — for now and in the years to come

- Drew Gilpin Faust

http://www.president.harvard.edu/speeches/faust/090604_commencement.php

Bản dịch:

Diễn từ của Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard trong Lễ Tốt nghiệp năm 2009

Ngày 4-6-2009


Drew Gilpin Faust

Thưa các vị khách quý, các bạn sinh viên vừa tốt nghiệp, quý phụ huynh, cựu sinh viên, các vị đồng nghiệp và bạn bè, và Bộ trưởng Chu, xin chào mừng quý vị đã đến đây tham dự buổi lễ này.

Đã trở thành truyền thống buổi nói chuyện của hiệu trưởng nhà trường trong lễ tốt nghiệp hàng năm để nói về một năm đã qua, báo cáo về những thành tựu nhà trường đã đạt được và những hướng đi sắp tới trong việc tập hợp các cựu sinh viên và những người bạn của nhà trường. Tháng 6 năm nay tôi có cả một năm đầy những bất ngờ và những đổi thay nhiều kịch tính để mà phản ánh.

Đáng lẽ tôi cần nhận thức rõ về những gì khác thường đã diễn ra trong đêm đầu tiên chào mừng các em sinh viên năm thứ nhất đặt chân vào Đại học Harvard tháng 9 năm qua, với sân trường được tắt đèn hoàn toàn. Lúc đó, trong nhiều tuần lễ, các thị trường tài chính rối loạn, các công ty uy tín bắt đầu sụp đổ, và chúng ta đã chứng kiến hàng ngàn tỷ đô la biến mất trên toàn cầu. Chín tháng sau, chúng ta sống trong một thế giới mới- một thế giới với những cơ chế, tiền đề và giá trị, cũng như các nguồn lực, đang thay đổi. Ít ai mong đợi sự quay lại nhanh chóng của thế giới mà chúng ta đã quen xem như tất yếu phải thế chỉ mới cách đây một năm mà thôi.

Hôm nay chúng ta làm lễ tốt nghiệp cho những sinh viên mà theo tờ The New York Times, là những người phải đương đầu với một thị trường lao động khó khăn nhất trong nhiều thập kỷ. Chúng ta cấp bằng cho sinh viên bước vào những ngành nghề đang phải tìm kiếm những “cánh đồng” mới khi đối mặt với những quy định, điều kiện lương bổng và những mục tiêu công đã thay đổi. Và chúng ta thấy vai trò và nguồn lực của các trường đại học cũng đang thay đổi trong môi trường khủng hoảng toàn cầu. Rõ ràng là chưa bao giờ chúng ta được xã hội cần đến như hiện nay. Chúng ta đã thấy Harvard trở thành gần như một cơ quan tuyển dụng cho chính phủ mới ở Washington. Khi Nhà Trắng tìm kiếm giải pháp cứu vãn nền kinh tế suy sụp, hay giải pháp cho tình trạng thay đổi khí hậu, thực hiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cải cách các quy định hay giáo dục phổ thông, họ đều kêu gọi đến sự phục vụ của đội ngũ cán bộ giảng viên của chúng ta, nhiều đến nỗi Thượng nghị sĩ Susan Collins ở Maine trong một buổi thu thập ý kiến về việc đề bạt nhân sự cấp cao, đã phải hỏi liệu có còn sót lại một giảng viên nào cho trường luật ở Cambridge hay không. Cũng không chỉ các giảng viên, mà rất nhiều cựu sinh viên của chúng ta đã được rút về làm việc ở những vị trí trong nội các và tất nhiên cả Phòng Bầu dục của Nhà Trắng.

Tri thức- và những con người có tri thức- là nhân tố cốt yếu để vượt qua những thử thách mà chúng ta đang phải đương đầu. Đó chính là điều mà chúng ta đang làm với tư cách là một trường đại học. Đó chính là điều cho thấy chúng ta là ai. Chúng ta tạo ra tri thức, và chúng ta gieo rắc nó khi giảng dạy sinh viên và chia sẻ kết quả nghiên cứu của mình. Tổng thống mới của chúng ta đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ cần phải “hỗ trợ các trường đại học nhằm đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới”, và phải “trả khoa học về đúng chỗ chính đáng cuả nó”, nghĩa là dẫn đầu thế giới trong việc nghiên cứu và khám phá. Bộ trưởng Bộ Năng lượng, diễn giả Steven Chu hôm nay, đã nhấn mạnh thêm thông điệp này, khẳng định rằng “sự thịnh vượng của quốc gia chúng ta trong những năm sắp đến tùy thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc nuôi dưỡng nguồn vốn trí thức”.

Nhưng ngay cả khi chúng ta tái xác nhận một lần nữa tầm quan trọng của các trường đại học và những việc họ làm, chúng ta đã bắt đầu thấy rằng cần phải làm công việc ấy một cách khác đi so với trước. Ở Trường Đại học Harvard, cũng như những trường bạn, chúng ta đang phải đương đầu với những bối cảnh đã thay đổi và đòi hỏi phải có những chiến lược được thay đổi cho phù hợp. Với tư cách một cộng đồng đại học chúng ta đã dành rất nhiều thời gian trong những năm qua để tập trung vào những thực tiễn mới đầy khó khăn ấy— bắt đầu quyết định xem cái gì chúng ta có thể và buộc phải sống mà không có nó. Về tất cả những việc ấy, chúng ta vẫn còn đang ở những bước đi ban đầu trong việc xác định tương lai của Harvard và bởi vì các trường khác cũng đang làm như thế, chúng ta đang xác định tương lai của giáo dục đại học. Nhưng đến cuối năm học với bao nhiêu thay đổi và điều chỉnh này, chúng ta phải tập trung không phải vào những gì chúng ta đã mất, mà là những gì chúng ta đang có. Đây là lúc nghĩ về chính bản thân chúng ta không hẳn chỉ như đối tượng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang vượt quá tầm kiểm soát, mà là người kế thừa một ngôi trường bốn trăm năm tuổi, một ngôi trường đã định nghĩa thế nào là sự ưu tú trong khoa học cho cả thế giới. Trong lễ nhậm chức hiệu trưởng cách đây một năm rưỡi, tôi đã nói về trách nhiệm ấy- những gì chúng ta còn nợ các giáo sư, các nhà khoa học và sinh viên, những gì chúng ta với tư cách một trường đại học còn nợ thế giới này. Trách nhiệm này giờ đây càng thêm nặng nề bởi thời đại mà chúng ta đang phải đối mặt. Chúng ta không thể đơn giản chỉ phục vụ như những người quản lý hay trông nom truyền thống và những đặc điểm đáng tự hào của Harvard. Chúng ta phải xây dựng và định hình những mục đích của trường đại học cho một tương lai đã đổi thay.

Sử gia lỗi lạc thời Trung cổ Caroline Bynum có lần nhận xét rằng “thay đổi là cái buộc chúng ta phải tự hỏi mình là ai”. Đâu là những thứ phù du sớm nở tối tàn, đâu là những gì bản chất cốt lõi? Cái gì chỉ là tập quán, thói quen? Trách nhiệm của chúng ta đối với Harvard, đối với nhau, đối với giáo dục đại học, nghĩa là chúng ta phải đặt ra những câu hỏi ấy và phải biết nắm lấy thời khắc đổi thay và những cơ hội trước mặt. Đổi thay có thể xảy ra với chúng ta, hoặc thông qua chúng ta. Chúng ta cần phải chắc chắn rằng mình là người thiết kế chứ không phải là nạn nhân của sự đổi thay. Chúng ta phải tự hỏi chính mình, rằng ta muốn trở thành cái gì trong cuộc suy thoái và khủng hoảng này, khi thế giới đang tiếp cận với cái có thể tạm gọi là một tiêu chuẩn mới. Chúng ta sẽ hình dung bản thân mình và những mục đích của mình như thế nào?

Những câu hỏi này đòi hỏi phải lên kế hoạch và tư vấn nhiều thành viên trong trường, và đó là quá trình còn đang thực hiện. Đây là những câu hỏi đòi hỏi phải có những quyết định và cân bằng các yếu tố khác nhau để đạt được sự kết hợp tốt nhất từ mọi bộ phận của nhà trường. Mỗi sự lựa chọn cụ thể sẽ có những tác động và ý nghĩa của riêng nó. Nhưng tôi muốn hướng sự chú ý của chúng ta hôm nay tới ý nghĩa của việc tích lũy để đi đến những quyết định ấy- một tổng thể vượt rất xa kết quả logic của từng bộ phận. Những sự lựa chọn này, như một tổng thể, sẽ tạo thành tuyên ngôn của chúng ta về niềm tin của Harvard rằng một trường đại học nghiên cứu của thế kỷ 21 nên là và cần phải là như thế nào.

Tôi muốn tập trung vài phút để nói về ba đặc điểm cốt lõi của trường đại học. Chỉ ba mà thôi. Sự phản ánh vắn tắt này không thể nói hết được những gì chúng ta phải làm và phải là trong tương lai. Nhưng tôi đã chọn ba đặc điểm ấy vì nó tiêu biểu cho những nhận thức đặc biệt quan trọng và đã tồn tại từ rất lâu về bản sắc của chúng ta – về những trách nhiệm và những cơ hội sẽ phải tiếp tục hướng dẫn chúng ta. Nhưng tôi cũng muốn lưu ý về những thử thách rất thực mà chúng ta phải đương đầu- với tư cách một trường đại học, cũng như một quốc gia- trong việc duy trì những cam kết này với một thế giới mà năm qua đã định nghĩa lại một cách khác đi nhiều so với trước đó.

Trước hết: Các trường đại học Hoa Kỳ đã từ lâu được xem là cỗ máy tạo ra cơ hội và sự ưu tú. Giáo dục là tâm điểm của giấc mơ Mỹ từ thời lập quốc. Tuy vậy tất cả chúng ta đều biết rằng học phí đại học tăng cao đã gây khó khăn cho nhiều gia đình trung bình ở Mỹ. Giữ cho giáo dục đại học ở mức người dân có thể chi trả được là điều cốt yếu đối với quốc gia và cốt yếu đối với Harvard. Nói đến cơ hội là nói đến sự công bằng, và đồng thời là sự ưu tú. Chúng ta cần phải là một thỏi nam châm để thu hút tài năng. Chúng ta đã hành động một cách kiên định với niềm tin chắc chắn này. Trong năm năm qua, chúng ta đã tạo ra một chương trình hỗ trợ tài chính có tác dụng biến đổi quan trọng, nghĩa là bảo đảm rằng mọi sinh viên có năng lực và tham vọng đều có thể theo học ở Harvard bất kể hoàn cảnh tài chính của họ. Và trong thập kỷ qua, chúng ta đã nâng cao gấp ba lần khoản hỗ trợ tài chính cho sinh viên và cho các trường chuyên ngành của chúng ta. Sự hỗ trợ đối với những sinh viên tài năng là một phần cốt lõi trong bản sắc của chúng ta, vì chúng ta tin rằng những ý tưởng hay nhất không xuất phát từ một giai cấp xã hội hay một dân tộc, giới tính, quê hương cụ thể nào. Đem lại cơ hội rộng rãi trong tiếp cận đại học là phương hướng cơ bản trong trách nhiệm và tính chính đáng trong hoạt động của chúng ta- chính trong mắt chúng ta, với những giá trị dựa trên chế độ tôn trọng nhân tài một cách mạnh mẽ; cũng như trong mắt xã hội rộng lớn đã dành cho chúng ta những ưu tiên như miễn thuế hay tài trợ nghiên cứu. Thậm chí khi nhu cầu nảy sinh trong sinh viên và nguồn quỹ hiến tặng giảm sút khiến những cam kết trên đây thành ra ngày càng quá tốn kém, chúng ta vẫn phải tái khẳng định những nguyên tắc về cơ hội tiếp cận như một nhân tố xác định chúng ta là ai. Vì chúng ta cam kết sẽ đem những người thông minh nhất vào trường Đại học Harvard, chúng ta sẽ phải tiếp tục đầu tư những giảng viên lỗi lạc nhất để hướng dẫn những con người thông minh ấy theo đuổi việc khám phá và nghiên cứu khoa học, những thứ đã định nghĩa nên Harvard như một trường đại học nghiên cứu ưu việt. Thậm chí ngay cả khi phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về nguồn lực, chúng ta cũng phải duy trì và xây dựng đội ngũ giảng viên này cho tương lai. Những sinh viên tài năng đòi hỏi phải có những giảng viên tài năng và ngược lại. Chúng ta hãy bảo đảm rằng mình sẽ tiếp tục thu hút và phát triển thành công cả hai đối tượng ấy.

Nhân tố thứ hai của bản chất trường đại học mà tôi muốn trình bày ở đây là vai trò của trường đại học như một địa điểm cơ bản của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở Hoa Kỳ. Trong những năm sau thế chiến thứ hai, chính sách liên bang đã xây dựng nên một cơ cấu đòi hỏi việc nghiên cứu khoa học và khoa học xã hội được thực hiện dựa trên nhà nước và các trường đại học nghiên cứu. Nghiên cứu và phát triển thu hút không nhiều đầu tư của khu vực tư nhân và trong những năm gần đây thậm chí mức độ đầu tư khiêm tốn ấy còn tiếp tục giảm sút. Xu hướng này được biểu tượng hóa bằng hình ảnh co lại của Phòng Thí nghiệm Bell, nơi mà trong những thập kỷ trước đã từng thúc đẩy những nghiên cứu cơ bản chẳng hạn những khám phá được giải Nobel của Bộ trưởng Steven Chu, người đã nhận bằng danh dự của Harvard.

Nhưng ngay khi sự gắn bó của khu vực tư nhân đối với việc nghiên cứu bị giảm sút, sự hỗ trợ của chính phủ đối với nghiên cứu cũng giảm sút theo. Trong vòng ba thập kỷ vừa qua, ngân sách liên bang dành cho nghiên cứu và phát triển đã giảm sút hơn 15% theo tỷ lệ GDP của Hoa Kỳ. Gói kích cầu của liên bang đã đem lại sự cứu giúp tạm thời làm trì hoãn xu hướng này- với 21 tỉ đô la cho hai năm sắp tới, chính phủ đã đặt mục tiêu dành hơn 3% GDP cho nghiên cứu và phát triển ngay cả khi kế hoạch kích cầu kết thúc. Nhưng thâm hụt tài chính liên bang quá cao sẽ kết hợp với việc thu hẹp nguồn lực của nhà trường để tạo ra những thách thức gay gắt trong việc đáp ứng những dự định rất tham vọng ấy. Thậm chí ngay cả trước khi kinh tế suy sụp, mô hình hỗ trợ khoa học cũng đã cần phải xem xét lại toàn bộ. Một báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia năm 2007 đã cảnh báo, đất nước chúng ta đã và đang đối mặt với một cơn bão dồn dập, quá ít sinh viên chọn theo học các ngành khoa học, quá ít người tìm được những hỗ trợ cần thiết để khởi động và duy trì sự nghiệp nghiên cứu của họ; quá nhiều người chọn những nghiên cứu an toàn và có thể dự đoán trước kết quả nhằm bảo đảm có được nguồn tài trợ; quá ít người có khả năng theo đuổi sự tò mò khoa học để đạt đến những ý tưởng cách mạng thực sự. Cuộc khủng hoảng tài chính chỉ làm lộ rõ những vấn đề vốn đã tồn tại về tương lai của nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ, và về việc hỗ trợ cho khoa học tại các trường đại học nghiên cứu của chúng ta.

Quỹ kích cầu ngắn hạn không được làm chệch hướng chúng ta trong việc tìm kiếm những giải pháp lâu dài. Mức tài trợ của liên bang là một phần trọng yếu của câu trả lời, nhưng đó cũng chỉ là một phần. Chẳng hạn khi nghĩ về việc làm cách nào hỗ trợ cho khoa học trong bối cảnh kinh tế đã thay đổi, chúng ta sẽ thấy mình phải nghĩ tới những quan hệ hợp tác kiểu mới với các quỹ nghiên cứu và các doanh nghiệp, cũng như với các trường khác. Chúng ta đã thấy những quan hệ hợp tác giữa các khoa và trường trong phạm vi Harvard, với các bệnh viện trực thuộc, với Viện Broad, với MIT, và những trường đại học khác như những công việc cốt yếu mà chúng ta đang thực hiện trong việc nghiên cứu tế bào gốc, khoa học nguyên tử, công nghệ gen, và kỹ nghệ sinh học. Và khi chúng ta cân nhắc xem làm thế nào thực hiện được giấc mơ Allston, những quan hệ hợp tác với bên ngoài Harvard tỏ ra rất hứa hẹn. Nếu chúng ta, với tư cách Harvard và với tư cách một trường đại học nói chung, muốn duy trì được sự xuất chúng trong nghiên cứu khoa học thì cần phải tìm ra những cách mới vừa để thực hiện vừa để hỗ trợ cho nghiên cứu.

Ba là: các trường đại học phục vụ như những nhà phê bình và là lương tâm của xã hội. Chúng ta tạo ra không chỉ tri thức mà còn tạo ra những câu hỏi, tạo ra những hiểu biết bắt nguồn từ chủ nghĩa hoài nghi, từ sự không ngừng đặt câu hỏi chứ không phải từ sự thống trị của những tri thức thông thái được chấp nhận không cần thử thách. Hơn bất cứ một tổ chức nào khác trong xã hội, cốt lõi của các trường đại học là tầm nhìn dài hạn và những quan điểm phản biện, và những điều này có được chính là vì đại học không phải là sở hữu của riêng hiện tại.

Gần bốn thế kỷ qua, Harvard đã nhìn xa hơn những sự hữu dụng và thích đáng tức thời, thoải mái đặt những giả định hiện tại vào sự thử thách gắt gao của những nơi chốn khác và thời đại khác. Các trường đại học thường xuyên được đánh giá bằng tiêu chuẩn có ích – bằng những đóng góp của họ cho sự cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ minh họa mạnh mẽ cho luận điểm này. Harvard là nhà tuyển dụng tư nhân lớn thứ nhì trong vùng trung tâm Boston và trực tiếp hay gián tiếp có các hoạt động kinh tế với giá trị trên 5,3 tỉ đô la Mỹ cho Massachusette trong năm qua. Nhưng những đóng góp như thế chỉ là một phần của những gì các trường đại học đã làm và đã tạo nên ý nghĩa trường đại học. Chúng ta cần các trường đại học không chỉ cho những mục tiêu có tính công cụ và tức thời như thế.

Tôi lo rằng các trường đại học chúng ta chưa làm tốt những gì có thể và đáng lẽ phải làm trong việc đặt ra những câu hỏi sâu xa và đáng lo ngại về tính chính trực của bất cứ xã hội nào. Khi thế giới tự cho phép mình hưởng thụ trong cái bong bóng phồn vinh giả tạo và chủ nghĩa tôn sùng vật chất, nên chăng chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa –qua nghiên cứu, giảng dạy và viết lách- phơi bày những dấu hiệu rủi ro và tâm lý muốn chối bỏ sự thật phũ phàng đang hiện diện trong những lựa chọn kinh tế và tài chính hàng ngày? —Nên chăng hệ thống giá trị của chúng ta cần phải đưa ra một đối trọng và thách thức vững chắc hơn đối với thói vô trách nhiệm và sự quá đáng, đối với lối suy nghĩ chạy theo lợi ích trước mắt và để lại hậu quả lâu dài?

Đặc quyền về tự do học thuật gắn liền với nghĩa vụ nói lên sự thật ngay cả khi điều đó hết sức khó khăn hay không được nhiều người ưa chuộng. Vậy là rốt cục nó quay lại biểu tượng Sự Thật trên tấm khiên của Harvard- sự cam kết dùng kết quả nghiên cứu và tri thức để xóa tan ảo tưởng, sự thiên lệch, thành kiến và tính tư lợi. Sự thật này có thể đến dưới hình thức những hiểu biết sâu sắc của khoa học không bị chi phối bởi ý thức hệ và chính trị. Nó cũng có thể đến trong công trình của các nhà nghiên cứu khoa học nhân văn, những người đã giúp chúng ta biết cách đọc và suy nghĩ một cách độc lập, cũng như đã đem lại cho chúng ta những quan điểm khác biệt của những tiếng nói khác, từ những nơi chốn khác, thời đại khác. Nó có thể đến thông qua sức mạnh tái hiện độc nhất của nghệ thuật- những thứ đã giúp chúng ta có khả năng hiểu được chính mình và hiểu được thế giới chung quanh nhờ biết thay đổi con mắt và lỗ tai. Nó có thể đến qua những câu hỏi về đạo đức và trách nhiệm được đặt ra trong chương trình giáo dục tổng quát cho tất cả các khoa chuyên ngành trong trường chúng ta. Thực tế là trong mấy tuần qua một nhóm sinh viên Trường Kinh doanh đã sáng tạo ra “lời tuyên thệ của doanh nhân” nhằm bảo đảm mọi sinh viên ra trường sẽ “phục vụ tốt hơn nữa cho điều thiện”. Được hỏi làm cách nào các trường quản trị kinh doanh và sinh viên của họ có thể ngăn chặn hay đẩy lùi cuộc khủng hoảng tài chính, câu trả lời của những sinh viên ấy là họ sẽ tìm cách khuyến khích lương tâm và sự tỉnh táo trong việc đào tạo nghề kinh doanh cũng như trong việc kinh doanh như một hoạt động nghề nghiệp.

Việc nâng cao vai trò của chúng ta như những nhà phản biện và hoài nghi chỉ có được nhờ giáo dục sinh viên, nơi chúng ta tìm cách, theo lời của Chương trình Giáo dục Tổng quát mới, là “làm đảo lộn các giả định hay thành kiến, biến những thứ quen thuộc thành cái gì lạ lùng như lần đầu được thấy..nhằm làm mất phương hướng những người trẻ tuổi và giúp họ tìm cách tự mình định hướng lại cho chính mình”.

Khi thích nghi với một thế giới đang thay đổi nhanh chóng, chúng ta phải một lần nữa xây dựng lại truyền thống giáo dục tự do và những yêu cầu nhân văn của Harvard. Những truyền thống ấy có thể tạo ra khả năng tự nghiên cứu và tự nhận thức giúp chúng ta vượt qua sự hoài nghi để đến được sự thông thái khôn ngoan.

Trường đại học là cỗ máy sản sinh ra những cơ hội, là mảnh đất chủ yếu của hoạt động nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ; cũng là người nói lên sự thật; đó là ba nhân tố cơ bản trong nhận thức của chúng ta về trường đại học. Tuy từng nhân tố ấy đang phải đối mặt với những thử thách trong kỷ nguyên mới phía trước chúng ta, những thách thức về cơ chế, về khả năng chi trả, về hệ thống giá trị. Và chúng ta bị thách thức trong việc chứng minh những cam kết của mình đối với ba nguyên tắc ấy, những nguyên tắc bao đời nay đã là trọng tâm của những điều chủ yếu đã định nghĩa nên chúng ta như một trường đại học. Chúng ta không được xem những nguyên tắc ấy là đương nhiên, chúng ta không được đánh mất khả năng nhìn vào những nguyên tắc ấy khi chúng ta buộc phải lựa chọn giữ lại cái gì và bỏ qua cái gì trong những tháng năm sắp đến. Nhưng chúng ta phải tạo ra những phương cách mới để duy trì những nguyên tắc ấy trong một thời đại đã có nhiều đổi thay. Chúng ta có trách nhiệm với những truyền thống ấy và những giá trị mà truyền thống ấy đại diện – đó chính là niềm tin rằng sự cởi mở và tự do theo đuổi chân lý sẽ tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta. Đó chính là điều thôi thúc tất cả những gì chúng ta làm và cho thấy chúng ta có ý nghĩa gì – trong thời khắc này cũng như trong nhiều năm sắp đến.

Phạm Thị Ly dịch