skip to main |
skip to sidebar
Truyền thuyết kể rằng ở xứ Thebes có một con nhân sư quái ác, một quái vật mặt phụ nữ, mình sư tử và có cánh chim, ra một câu đố quái quăm nhưng ai không trả lời được thì nó ăn thịt: "Sinh vật nào buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa đi hai chân, và buổi chiều đi ba chân?”. Cuối cùng Oedipus, một trong những anh hùng nổi tiếng nhất của Hy Lạp, đã trả lời đúng: “Con người”. Khi chúng ta mới sinh ra là những đứa trẻ tập bò, khi lớn lên là những người trưởng thành đi đứng hiên ngang và khi về già, chúng ta lại cần đến gậy trong từng bước chân.
Bao nhiêu năm sau, hoàng đế Napoleon của Pháp từng nói thời gian là một kẻ cướp mà pháp luật không hề đá động đến nhưng lại lấy đi những gì quý giá nhất của chúng ta.
Chúng ta hôm nay, liệu có cảm nhận được thời gian giống Oedipus và Napoleon của thời xa xưa? Tôi nghĩ câu trả lời tự tồn tại ở bản thân mỗi người.
Theo Wikipedia, Thời Gian là một thành phần của một hệ thống đo lường được dùng để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, để so sánh độ dài của các sự kiện, và khoảng cách giữa chúng, để lượng hóa chuyển động của các đối tượng. Và tôi cho rằng lượng hóa chuyển động của các đối tượng còn có ý nghĩa là môi trường chứa đựng sự thay đổi của sự vật, rõ ràng nếu mọi vật bất động, không thay đổi thì thời gian trở nên vô nghĩa mặc dù vẫn tồn tại khách quan.
Do đó giá trị của thời gian dựa vào sự thay đổi của sự vật. Nơi mà chúng ta làm được nhiều việc, quá trình thay đổi của sự vật xảy ra nhanh thì ở đó thời gian càng có giá trị và ý nghĩa hơn. Và tôi nghĩ chắc hẳn ai trong chúng ta điều biết giá trị của thời gian vì mỗi người chỉ có một thời gian để sống, đặc biệt hơn nữa chúng ta cũng không biết mình còn bao nhiêu “tài sản giá trị” ấy.
Tuy nhiên, điều kỳ lạ là chúng ta rất hiếm khi hoặc không bao giờ nuối tiếc thời gian hay thấy mình thiếu thốn dù nó rất hạn chế. Nói một cách chính xác hơn, chúng ta quan tâm tới sự hạn chế của nó vì nó không đủ để chúng ta có được điều này, điều nọ, chứ không phải quan tâm vì thời gian là thước đo cho cách mà chúng ta sử dụng nó để tạo ra tất cả những giá trị chân thật khác trong cuộc đời.
Tại sao lại vậy? Đó là vấn đề hữu hạn trong quan điểm về “NGÀY MAI”! Tôi vẫn còn nhớ câu chuyện về nó.
Khi bạn còn trẻ, vừa ra trường liền phải lăn xả vào xã hội để tạo nền tảng cho sự nghiệp, trau dồi kỹ năng để thăng tiến và nghĩ trong đầu rằng mình sẽ chăm sóc cuộc sống cá nhân, gia đình vào ngày mai.
Khi bạn bước qua tuổi 30 với nghề nghiệp ổn định và điều này buộc mình phải phấn đấu hơn nữa để giữ vững thành quả sau bao năm, đồng thời tiến triển hơn nữa để có nhiều điều kiện cho con cái mai sau phát triển, và lại một lần nữa, bạn chờ ngày mai để chăm lo cho cuộc sống cá nhân, gia đình.
Và ngày mai, khi tất cả nỗ lực của bạn được đền bù xứng đáng. Bạn đang ở vị trí cao và bắt đầu bạn trở nên lo lắng với áp lực phải bảo vệ thành quả và sợ hãi sự cạnh tranh của thế hệ trẻ phía sau. Một lần nữa cho ngày mai.
Rồi ngày mai đến, nhưng có lẽ quá trễ để bắt đầu một ngày mai thực sự cho chính mình vì bạn đã già, thời gian đã tàn nhẫn cướp mất đi sức lực của bạn lúc này.
Câu chuyện của NGÀY MAI là vậy, nhưng đừng vội lo lắng bạn ạ! Vì chúng ta còn một thứ quý giá khác, đó là THỜI ĐIỂM HIỆN TẠI. Ngay khi bạn đọc tới những dòng chữ này, thì thời điểm này là thời điểm quan trọng nhất của bạn, vì chỉ ngay lúc này, bạn có thể tác động và làm thay đổi nó. Ngày mai thực sự của bạn đã đến.
Tôi không có ý định viết tiếp với những kỹ năng để quản lý thời gian như tổ chức công việc, học cách nói không, hành động theo độ ưu tiên, giao việc cho người khác, v..v.. vì tôi nghĩ bạn đã đủ hiểu biết về nó. Vấn đề của bạn cũng là vấn đề của tôi, đó chính là trân trọng, hiệu quả hơn để thời gian càng có nhiều giá trị và ý nghĩa.
Trước tiên, tôi xin phép tác giả Cao Huy Thuần được trích dẫn một số đoạn trong “Quà Tết” – tác phẩm Thấy Phật.
Tôi tìm thấy niềm vui và yên bình khi đọc Thấy Phật, may mắn hơn nữa, tôi được thả mình trong những dòng suy nghĩ của bác và tìm thấy sự đồng cảm ở “Quà Tết”.
Được dẫn nhập từ vụ kiện của cặp vợ chồng người gốc Ả Rập tại Pháp, câu chuyện về một anh chồng đâm đơn ra tòa kiện chị vợ, xin hủy bỏ hôn thú theo điều 180 luật dân sự Pháp vì trong đêm tân hôn, anh ta phát hiện ra cô dâu không còn trinh bạch.
“Phần thắng, anh chồng nắm chắc trong tay, vì điều 180 nói rõ: nếu có lầm lẫn về “đặc tính cốt yếu” của người phối ngẫu, người kia có thể yêu cầu hủy bỏ giá thú. Anh là Ả Rập, Hồi giáo, chị là Ả Rập, Hồi giáo, cùng một văn hóa, cùng một phong tục, cùng một tôn giáo, cả hai đều yên chí trong đầu rằng trinh tiết là “đặc tính cốt yếu”…Anh bị lừa vì chị nói dối…Đứng về mặt pháp lý thuần túy, quan điểm của anh chắc như đinh đóng cột”
“Như đinh đóng cột, tòa án cũng thấy như vậy. Cho nên xử anh thắng kiện, giá thú vô hiệu, hôn nhân hủy bỏ. Giải pháp đó lại hợp lòng hai cá nhân vì anh tuyên bố không thể sống chung trên một lời nói dối…”
Tuy nhiên câu chuyện không đơn giản như vậy khi các ký giả lại đưa bản án lên báo.
“Báo vừa đăng tin, lập tức dư luận nổi sóng. Báo, đài, nhân vật tôn giáo, nhân vật chính trị, hội bảo vệ phụ nữ, hội bảo vệ nhân quyền, đảng phái, luật gia, văn nhân, nghệ sĩ…bao nhiêu tai mắt trong xã hội chính trị, xã hội dân sự, xôn xao phản ứng như thể có con ong ngứa nào đấy chích một phát làm nổi dị ứng cả mình. Có vấn đề nào nhạy cảm hơn vấn đề ấy không? Chẳng những nó chạm vào vùng hoang tưởng sâu kín nhất trong đầu óc con người, nó còn là bãi chiến trường giữa hai quan niệm giá trị, hai văn hóa, hai cách sống. Nhân danh tiến bộ, xã hội Pháp lên án quan niệm cổ hủ trói chặt người phụ nữ vào cái chữ trinh bất bình đẳng, nền tảng của một chế độ phụ quyền, gia trưởng, xem phụ nữ như thuộc cấp dưới, có những bổn phận, nghĩa vụ mà đàn ông không cần biết, tệ hơn nữa như vật sở hữu của đàn ông.”
“Cái gì vậy? Trinh tiết? Trinh tiết là cái gì mà tòa án phải xem như “đặc tính cốt yếu”? Cái gì mà tòa án phải xử bỏ hôn thú? Cái ấy, nếu nó là quý giữa hai người Ả Rập với nhau, nó chẳng là cái gì nếu cả hai người sống trên đất Pháp…Chẳng lẽ nước Pháp sẽ a tòng với các cô thiếu nữ Hồi giáo để xúi các cô ấy làm cái việc mọi rợ mà nhiều cô đã làm, là vào bệnh viện nhờ phẫu thuật vá lại tấm màng trinh?”
“Xôn xao dư luận khiến Nhà nước phải chống lại bản án. Bảy tháng sau, tòa thượng thẩm xử lại, bác lối giải thích của tòa dưới, không xem trinh tiết như “điều kiện cốt yếu” nữa, dù có lừa dối. Tòa thượng thẩm nói rõ: xem như vậy là vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ, vi phạm quyền tự do định đoạt về thân thể, vi phạm trật tự xã hội mà luật pháp phải bảo vệ.”
“Theo dõi vụ án trên báo đài, con tôi hỏi tôi: người Việt ta nghĩ gì? Thú thật, tôi đã rất ngập ngừng.”
Tôi tin rằng câu hỏi của con bác Thuần cũng là câu hỏi của nhiều người hiện nay, đặc biệt là nam nữ thanh niên Việt Nam khi chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục hòa mình vào nền văn minh nhân loại. Rõ ràng sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây cũng đang dẫn đến những xung đột mà ai trong chúng ta cũng có thể cảm nhận được. Với sự phát triển của văn hóa Tây phương, tôi nghĩ cuộc sống của người Đông phương nói chung, và Việt Nam nói riêng đang thay đổi về đạo đức, giá trị tôn giáo, tư tưởng. Điều này theo tôi là tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa vì sự giao thoa, dung hợp thiết nghĩ cũng là một phần trong sự tiến hóa của con người.
Hôm nay, chúng ta hay nói với nhau về khuynh hướng của giới trẻ trong cách tiếp nhận nền văn hóa khác và chúng ta lại lo lắng cho giới trẻ sẽ bị tiêm nhiễm những cái mới đồng thời đánh mất đi tất cả những giá trị truyền thống của quê hương. Điều này đúng, nhưng tôi nghĩ đó cũng chỉ là khuynh hướng, tính nhất thời vốn có, chứ không có chuyện văn hóa Đông sẽ Tây đi và ngược lại. Tuy nhiên, điều quan trọng là liệu chúng ta có định hướng, khuyến khích để thúc đẩy quá trình một cách hiệu quả hơn hay là để mặc người trẻ loay hoay tìm tòi và rồi mất quá nhiều thời gian cho việc quay trở lại.
Tôi là một người trẻ và tôi đã và đang quanh quẩn tìm lối thoát cho riêng mình. Có lẽ đối với tôi, điều đầu tiên là khả năng nhận thấy được sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông và Tây để dựa vào nền tảng ấy, tôi phân biệt được đâu là những mặt tiêu cực và tích cực, để chúng tồn tại song hành, hòa hợp chứ không hợp nhất. Và điều cuối cùng là tôi nghĩ rằng mình cần phải có những kỹ năng để vượt những rào cản văn hóa, nếu không tôi sẽ bị cuốn vào vòng xoáy, vô hình không tự biết chính mình, không còn hướng về bên trong để giữ vững bản thân như giá trị cốt lõi của Đông phương.
“Cũng bối rối không tìm ra câu trả lời. Nhưng tôi biết con tôi đoán được lòng dạ tôi. Tôi đủ phóng khoáng để chấp nhận tiến hóa của xã hội ở đây, nhưng tôi biết tự do nào cũng có giới hạn và mực thước là cái nôi trong đó tự do nằm thoải mái nhất. Tôi thấy tôi xa lạ với thứ văn hóa gì đã tạo ra dối trá của chị vợ và hớt hải của anh chồng. Đồng thời, tôi chẳng thấy tôi quen thuộc được với thứ văn hóa gì nhạo báng việc trân quý một đặc tính của người phụ nữ. Một món quà mọn còn lựa người để cho, chẳng lẽ món quà quý không tìm người xứng đáng để trao tặng? Và món quà đó luôn luôn là quà quý dù lần đầu hay lần cuối, dù nữ hay nam. Trinh tiết là gì, xét cho cùng, nếu không phải là biết quý mình và quý người. Quý mình thì không làm gì để mình có thể tự chê mình. Quý người thì không đem cái gì mình tự chê để tặng người.”
“Tôi nói thế là đứng trong xã hội của nước Pháp, một văn hóa không giống văn hóa mà tôi đã thừa hưởng, để nói. Ví thử con tôi hỏi quan điểm của người Việt ở trong nước, tôi nói sao đây? Tôi nói thế này đúng chăng: trinh tiết vẫn là giá trị mà số đông gia đình Việt Nam vẫn giữ gìn như một lý tưởng, và điều đó may mắn cho xã hội. Nhưng nếu con tôi hỏi thêm: xã hội ấy có khe khắt chăng đối với những người không giữ được lý tưởng? Có biến con người thành những nạn nhân của dối trá, của hớt hải? Ngang mức này thì tôi đành phải mắc nợ thôi, vì tôi không nắm vững thực tế”
Tôi, ở ngay trong làn sóng văn hóa và ngay trong thế hệ mà mọi người bàn tán xôn xao về đạo đức của giới trẻ với những “mỹ từ” như báo động, băng hoại, suy đồi, thật sự cũng không biết phải trả lời sao cho đúng. Thật vậy, với tỉ lệ nạo phá thai cao ngất ngưỡng hàng năm, với từ khóa “sex” được người Việt tìm kiếm hàng đầu trên Google, và đặc biệt với những gì xảy ra chung quanh tôi, những tranh luận ầm ĩ về sự chung thủy của đàn ông Việt Nam và đàn ông nước ngoài, về cái ngàn vàng, về dan díu giữa nhân viên nữ và sếp nam, tôi cho rằng chúng tôi, là hiện thân của những người trẻ, vẫn chưa hiểu hết được điều tích cực và có kỹ năng sống cần thiết để vượt rào khi mình gặp phải chướng ngại. Và thật buồn khi thấy chúng tôi không bằng ngay cả cụ Nguyễn Du, cho dù đã vượt xa biết bao về nhiều mặt như công nghệ, khoa học kỹ thuật, thông tin.
“Nhưng tôi có một câu trả lời bên cạnh mà tôi cho là mang tính đạo đức cao hơn – cao hơn quan niệm thường tình, cao hơn luân lý của đức Khổng, thích hợp hơn với giới trẻ, đúng với mọi thời đại. Đó là đạo đức mà đại thi hào của nước tôi đã chuyển thành thơ, đạo đức của Nguyễn Du, đạo đức của Truyện Kiều, đạo đức của Kim Trọng khi chàng nói với người tình mười lăm năm trước: “Chữ trinh kia cũng có năm bảy đường”…Xã hội ấy có cái may mắn vô song thu nhận một thứ văn hóa khác, rộng mở, bao dung, giải thoát, bổ túc cho thứ luân lý nghiệt ngã, chật hẹp mà các ngài quân tử đã trùm lên đầu chị em. Truyện Kiều là hiện thân của văn hóa đó.”
“Tôi sẽ hỏi: Con có biết nàng Kiều bị vùi dập ấy nói câu gì với người tình muôn thuở không? Một đạo đức bất hủ: “Chữ trinh còn một chút này”. Chưa ai định nghĩa chữ trinh như thế! Tuyệt vời! Cao ngất! Và “một chút” ấy nằm ở đâu? Ở trong đầu! Trong suốt 15 năm luân lạc, có lúc nào Thúy Kiều không nghĩ đến người xưa? Với người xưa ấy, cách đây mười lăm năm, nàng đã giữ mình trong trắng. Trong trắng ấy vẫn còn nguyên vẹn. Nguyên vẹn trong đầu. Ai dạy Thúy Kiều bài học vỡ lòng của chốn thiền môn: tâm dẫn đầu mọi việc? Chẳng ai dạy cô, tự cô sống, tự cô biết. Cô nhìn vào tâm cô, tâm cô trong trắng, chung thủy: trinh tiết là vậy.”
“Hiểu như thế, cái lỗi thời không phải là trinh tiết mà là đạo đức răn đe, đạo đức mệnh lệnh. Đạo đức đó đã tạo ra bộ mặt hớt hải lúc bốn giờ sáng, tạo ra dối trá….con người ai cũng có khuynh hướng tự nhiên hướng thượng, như hạt mầm tự nhiên tìm ánh sáng vươn lên…sống buông thả không đem lại hạnh phúc vì hạnh phúc khác với thú vui. Thú vui chốc lát đi qua, chán chường sẽ đến, hạnh phúc lại vẫn ước mơ. Trinh tiết là hạnh phúc – hạnh phúc tặng nhau cái gì mình quý cho người mình quý”
Tôi hoàn toàn đồng ý với bác, trinh tiết là giá trị, là hạnh phúc và chúng ta không nên hiểu nó với ý nghĩa chật hẹp của luân lý đời thường. Dẫu biết rằng như thế, tôi nghĩ bao nhiêu phụ nữ Việt Nam sẽ tiếp tục trăn trở vì nhận thức của phái nam, nhận thức của xã hội cần một thời gian dài để thẩm thấu, không đơn giản để tiếp thu điều tích cực, hay nói cách khác là loại bỏ điều tiêu cực dễ dàng. Hơn thế, xã hội cần phải tạo ra và phát triển những thể chế cần thiết để làm đòn bẩy đưa nền văn hóa Việt Nam sắc sảo hơn trong thời đại mới.
Tôi vẫn còn nhớ một bài phân tích của Dự Trần (Minh Biện) về việc ngoại tình ở Việt Nam cao trên cơ sở so sánh với các nước khác về khía cạnh khác biệt thể chế, bỏ qua các yếu tố về đạo đức, văn hóa, là cái không đo đếm được. Vì không phải ai cũng có cơ hội để ngoại tình nên sự sẵn có của các cơ hội là yếu tố bản lề và nếu các cơ hội này xuất hiện thì khó xảy ra việc ngoại tình, cho dù lợi ích thu được từ việc ngoại tình lớn hơn so với rủi ro bị phát hiện và bị trừng phạt thế nào. Bài phân tích cho rằng Việt Nam có một số thể chế nổi trội sau:- Thị trường mại dâm năng động và giá cả dịch vụ rẻ hơn so với các nước khác nếu tính theo phần trăm thu nhập tháng
- Thị trường nhà nghỉ khách sạn và giá cả dịch vụ rẻ hơn so với các nước khác nếu tính theo phần trăm thu nhập tháng
- Bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng cơ hội góp phần hình thành thị trường mại dâm, đồng thời tạo ra điều kiện cho nhiều người sẵn sàng làm bồ nhí cho tầng lớp giàu hơn
- Quan niệm xã hội về ngoại tình khi nhiều người không quan niệm mua dâm là hành vi ngoại tình. Ngoài ra văn hóa truyền thống cũng giúp cho xã hội không khắt khe đối với đàn ông như là phụ nữ trong việc quan hệ ngoài hôn nhân
- Kinh tế kém phát triển và sự phụ thuộc của phụ nữ khi thị trường hôn nhân cho người phụ nữ đã ly dị rất hẹp, kèm theo chi phí nuôi con lớn khi thu nhập thấp. Hai yếu tố này dẫn đến việc không muốn ly dị cho dù biết chồng ngoại tình.
- Chính sách nhà nước về mại dâm không tốt, ngoài ra người đi mua dâm chỉ bị phạt hành chính trong khi các nước khác có thể bị tù
- Nền kinh tế tiền mặt và thu nhập ngoài lương, điều này làm cho người vợ khó kiểm soát được thu chi của chồng
- Giờ nghỉ / Ngủ trưa kéo dài tạo cơ hội cho việc ngoại tình
Ngoài ra, theo tôi còn hai thể chế sau
- Việc ký hợp đồng, làm ăn buôn bán đa phần qua nhậu nhẹt và điều này cũng là cơ hội để mua vui, chiều lòng lẫn nhau.
- Việc thực thi luật pháp không nghiêm minh, do đó đàn ông Việt Nam không chịu gánh nặng tài chính nặng như ở các nước khác. Đa phần các trường hợp người chồng không trợ cấp cho vợ và con cái theo luật định.
Tôi tin rằng khi những thể chế trên được cải thiện, nó sẽ là nền tảng vững chắc để cải thiện số phận của người phụ nữ Việt Nam, dẫn đến nhận thức đúng đắn hơn về đạo đức trinh tiết cho toàn xã hội. Và cũng vì thế, văn hóa truyền thống được tiếp nhận, dung dưỡng để hội nhập cho hôm nay và mai sau.
Tôi nhớ hồi xưa lúc còn bé, tôi chẳng mơ ước điều gì cả trừ những lúc làm văn "ước mơ của em là gì?". Có lẽ vì ít được hiểu biết, suốt ngày cứ quanh quẩn trong cái hẻm nhỏ xíu để bắn bi, tạt thú, cò cò..v..v...nên thấy hài lòng và chẳng mong muốn điều gì thêm. Sau này tôi lớn hơn, hiểu biết hơn thì lại thấy thiếu thốn và cần phải thay đổi, nhiều khi nghĩ đúng là con người, rất ư phức tạp, càng học nhiều lại thấy mình càng dốt, càng giàu lại thấy mình càng không đủ, chẳng khác nào đi uống nước biển, uống nhiều khát nhiều.
Tôi cũng chẳng nhớ nhiều về quá khứ, có thể ước mơ đầu đời là năm học lớp 9, khi tôi se sua mơ được học cấp 3 ở trường Nguyễn Thị Minh Khai vì thấy nó cổ kính và tiếng tăm sao sao ấy. Trường vừa xa nhà, vừa không biết mình đủ sức hay không nhưng vì mơ ước nên cứ bon chen nộp đơn trái tuyến từ Hoàng Văn Thụ. Giờ nghĩ lại thấy thích, vì mơ ước và quyết tâm thực hiện ước mơ dù chưa biết tính khả thi thế nào. Bây giờ thì...
Dẫu biết mơ ước không tốn một xu nhưng do lớn rồi thì thực tế hơn, có mơ cũng nghĩ tới chuyện có khả thi hay không, cũng lựa chọn để mơ thành ra thay vì mơ cao cao cho sướng lại chuyển sang mơ tí tẹo cho có với người khác. Hơn nữa, thời đại hôm nay luôn thay đổi, điều này làm cho mơ ước của chúng ta cũng biến đổi ngay cả trong suy nghĩ. Già thì mọi thứ phức tạp thật, ngay cả những điều đơn giản!
Tôi đang cố gắng giản đơn mọi thứ, luôn cả những ước mơ. Chúng tuy nhiều nhưng cái nào cũng khả thi, chỉ kẹt nỗi tôi cứ quẳng chúng nó ở một góc xó xỉnh nào đó từ ngày này qua ngày khác, rồi thì dần phai nhạt và chẳng còn là mơ ước nữa. Hôm nay có dịp nhìn lại, tôi thấy mình may mắn khi còn một vài điều trong lòng, thế là tôi biết mình còn niềm tin vì khi tôi mất hết lòng tin thì chắc chắn chẳng còn mơ ước.
Ừ, có lòng tin thế bao giờ đi xây chúng? Hmm...tôi luôn hỏi người khác "khi nào bắt đầu, làm cách nào, bao giờ xong" nhưng nghĩ lại tôi chẳng bao giờ hỏi tôi như thế, đúng là đỉnh cao của vinh quang là thắng được chính mình thật.
Sự tin cậy, đạo đức và luật pháp
Trong đời sống xã hội, tại sao người ta phải tin nhau? Nếu người ta không còn tin nhau thì hậu quả sẽ ra sao? Đâu là những điều kiện xã hội của sự tin cậy nhau trong xã hội?
Có thể hiểu sự “tin nhau” hay “tin vào người khác” là yên tâm nghĩ rằng người khác sẽ cư xử đúng như mình mong đợi, sẽ làm đúng như lời họ nói. Đây là một tâm thế cởi mở, thật tình, không có định kiến với người khác, kể cả những người chưa quen biết.
Sự tin cậy và sự trung thực
Niềm tin vào người khác ở đây được hiểu không như một khái niệm đạo đức hay tôn giáo, mà như một khái niệm xã hội học. Georg Simmel là nhà xã hội học Đức đầu tiên phân tích khái niệm này. Trong cuốn Sự bí mật và những hội kín (1908), ông cho rằng “mọi mối quan hệ giữa con người với nhau đều đương nhiên dựa trên sự kiện là họ biết gì đó về nhau”. Trong buôn bán, người chủ tiệm biết là khách hàng của mình muốn mua món hàng tốt nhất với giá thấp nhất; người thầy giáo biết là mình có thể đòi hỏi sinh viên phải đạt được một số kiến thức nào đó; vị giám đốc xí nghiệp biết là mình có thể yêu cầu một khối lượng và một chất lượng sản phẩm nào đó đối với công nhân... Nếu không có sự hiểu biết đó, thì hoàn toàn không thể có bất cứ sự tương tác nào trong xã hội. Tuy nhiên, trong những xã hội ngày càng phức tạp và phát triển, “đời sống dựa trên hàng ngàn giả định mà cá nhân hoàn toàn không thể nắm hết hay kiểm chứng hết mọi ngọn nguồn, nhưng họ buộc phải chấp nhận chúng dựa trên sự trung tín [Treu] và sự tin cậy [Glauben]”.
Bao lâu mà pháp luật chưa nghiêm và chưa mang đầy đủ tính chất dân chủ và lý tính thì sự suy thoái đạo đức trong xã hội và tình trạng mất niềm tin giữa con người với nhau trong xã hội là điều khó tránh khỏi.
Simmel coi lòng tin cậy là một trong những thuộc tính chủ yếu, thậm chí là thuộc tính đầu tiên, của các xã hội hiện đại; ông coi các xã hội này là những xã hội của lòng tin cậy. Trong những xã hội này, cuộc sống của chúng ta phụ thuộc phần lớn vào niềm tin vào người khác và vào sự lương thiện của người khác. “Những quyết định quan trọng nhất của chúng ta thường dựa trên một hệ thống các quan niệm phức tạp mà phần lớn trong đó đều dựa trên sự đoan chắc là mình không bị đánh lừa”.
Vì thế, nói cách nào đó, niềm tin cũng là một sự đánh cược. Theo Simmel, ai đã biết hết thì không cần phải tin cậy, nhưng ngược lại, ai không biết gì hết thì cũng không thể tin cậy một cách hợp lý. Ông gọi sự tin cậy là “một tình trạng trung gian giữa sự hiểu biết và sự không hiểu biết”, và ông định nghĩa sự tin cậy là “một giả thuyết về một ứng xử tương lai, khá chắc chắn để người ta có thể dựa trên đó mà hành động”.
Nhiều nhà kinh tế học cho rằng đặc trưng cơ bản của con người kinh tế (homo oeconomicus) chỉ là sự tính toán lợi ích và thường bỏ quên khía cạnh “niềm tin” này trong ứng xử của con người xã hội. Theo C. Koenig và G. Van Wijk (1992), sự tin cậy là một thứ “khế ước mặc nhiên” giữa con người với nhau. Sự tin nhau vừa là phương tiện, vừa là biểu hiện của các mối liên hệ xã hội. Tâm thế này là một trong những điều kiện căn bản để có thể duy trì đời sống tập thể, nó nằm ngay trong kết cấu của các mối liên hệ xã hội. Người ta không thể sống được với nhau nếu không tin nhau.
Chất kết dính của sự tin cậy trong xã hội chính là sự thật. Do vậy, nói đến sự tin cậy là phải nói đến tính trung thực: khi làm điều mình nói, và nói điều mình làm, thì chúng ta được coi là người đáng tin cậy. Còn khi người ta không còn tin nhau nữa, thì lúc ấy bắt đầu xuất hiện sự hoài nghi và sự giả dối.
Sự hoài nghi và sự giả dối
Thực ra, theo Simmel, chúng ta cần phân biệt giữa sự nói dối và sự chọn lọc những gì cần nói trong những bối cảnh nhất định. Ông viết: “Nếu người ta cứ phát biểu tất cả mọi thứ [trong đầu mình] một cách trung thành tuyệt đối theo thứ tự thời gian, thì người ta sẽ đi thẳng vào nhà thương điên”! Tuy nhiên, Simmel nói thêm rằng nếu việc nói dối có thể cần thiết trong một số hoàn cảnh quan hệ liên cá nhân nào đó, thì trong đời sống xã hội hiện đại, việc này lại trở thành một mối nguy cơ lớn: “Sự nói dối đe dọa sự tồn tại của nhóm trong những xã hội đơn giản ít hơn nhiều so với những xã hội rất phức tạp”. Bởi lẽ sự giả dối không cách bao xa sự gian dối.
Những hiện tượng giả dối và gian dối trong xã hội chúng ta ngày nay (như chạy chọt, xu nịnh, cơ hội, mua bằng bán điểm, vòi vĩnh, ăn chặn...) một khi phổ biến thì quả là hết sức nguy hại, bởi vì chúng có thể dẫn tới không chỉ sự phạm pháp, mà nghiêm trọng hơn và sâu xa hơn, còn có nguy cơ phá vỡ niềm tin giữa con người với nhau trong cuộc sống xã hội - nghĩa là hủy hoại chính cái cốt lõi nhất của mối dây liên hệ xã hội. Khi người ta không ai tin ai, cái gì cũng hoài nghi, kể cả lòng tốt của người khác, thì lúc ấy không khác gì tình cảnh mọi người chống lại nhau mà Hobbes đã cảnh báo (bellum omnium contra omnes), hay cũng có thể gọi là tình cảnh mang tính chất “Chí Phèo” trong đó người ta trở nên vô cảm và cư xử với người khác một cách bất chấp mọi chuẩn mực và luật lệ, miễn là có lợi cho mình.
Những điều kiện xã hội của niềm tin giữa con người với nhau trong xã hội
Vậy đâu là nguồn gốc của các hiện tượng gian dối và suy thoái niềm tin trong xã hội? Trả lời được câu hỏi này thì đồng thời cũng có nghĩa là tìm ra những điều kiện xã hội để xác lập niềm tin giữa con người với nhau trong xã hội. Câu trả lời của chúng tôi, đó chính là nền đạo đức xã hội và luật pháp quốc gia.
Nhiều người thường cho rằng sự suy thoái đạo đức trong xã hội bắt nguồn từ sự sút kém của ý thức đạo đức cá nhân. Lập luận như vậy không hẳn là sai, nhưng thực ra không tiến thêm được bước nào trong việc giải thích. Trong một bài trả lời phỏng vấn để giải thích tình trạng suy thoái về văn hóa, một nhà nghiên cứu đưa ra hai nguyên nhân, một là do hoàn cảnh chiến tranh trước đây, và hai là “có lẽ nằm trong “mã di truyền”, trong cốt cách của dân tộc” (1). Chúng tôi nghĩ rằng giả thuyết thứ hai hoàn toàn không ổn vì mang tính chất định kiến và không thể chứng minh được. Theo chúng tôi, cần tìm nguyên nhân của hiện tượng suy thoái đạo đức này ngay trong nền đạo đức của xã hội, bởi lẽ suy cho cùng và xét một cách tổng thể, ý thức đạo đức cá nhân là sản phẩm phản ánh nền đạo đức của một xã hội nhất định.
Trong môi trường kinh doanh, chữ tín trong xã hội hiện đại cũng mang nội dung khác với chữ tín trong xã hội cổ truyền. Mặc dù các doanh nhân ngày nay vẫn thường tin nhau sau khi trải nghiệm về nhau, nhưng niềm tin này còn được xác lập chủ yếu dựa trên nền tảng luật pháp. Chính điều này làm cho các mối quan hệ giao dịch có thể khuếch trương mạnh và rộng hơn nhiều so với nền kinh doanh cổ truyền.
Trong cuốn Phê phán lý tính thực hành, nhà triết học Đức Immanuel Kant nhấn mạnh rằng không thể lấy các giá trị hay các lợi ích đặt làm cơ sở cho đạo đức học; một nền đạo đức học lấy sự thành công hay hiệu quả làm thước đo chủ yếu thì suy cho cùng sẽ thủ tiêu bản thân đạo đức. Theo ông, nguồn gốc của đạo đức nằm trong sự “tự trị” (autonomy), trong việc tự ban bố quy luật của ý chí: “Luân lý là tổng thể những quy luật ra mệnh lệnh vô-điều kiện để ta phải hành động theo chúng”(2).
Theo chúng tôi, bản thân nền đạo đức trong xã hội Việt Nam ngày nay đang lâm vào tình trạng bất ổn sâu xa do chủ yếu đặt nền tảng trên quan điểm duy lợi và mang tính chất ngoại trị (heteronomy). Chính vì luôn đề cao lợi ích và hiệu quả lên hàng đầu (duy lợi) và chỉ chú trọng kết quả cần đạt được chứ không chú trọng tới ý chí của “chủ thể luân lý” về cái phải là hay cái phải làm xét như một mệnh lệnh vô điều kiện theo nghĩa của Kant (tức là dựa trên nguyên tắc ngoại trị chứ không phải nguyên tắc tự trị), nên mới phát sinh và lây lan những căn bệnh như bệnh thành tích, bệnh phong trào, bệnh thi đua, và hệ quả khó tránh khỏi là bệnh sống hai mặt, hay nói như Kant, đó là sự “đạo đức giả, không có thực chất”, chỉ có cái Thiện trên ngôn từ, chứ không có trong tinh thần. Vì chỉ dựa trên những động lực bên ngoài (chỉ tiêu, thành tích, khen thưởng...) hơn là những động lực thực chất bên trong, tức là các động lực tinh thần và đạo đức, nên hậu quả là làm đảo lộn thang bậc giá trị, đặt nặng mục tiêu hơn là phương tiện, thậm chí có thể đi đến chỗ bất chấp phương tiện, miễn là đạt mục tiêu (chẳng hạn, học để thi, học để lấy bằng; hoặc đề cao lý tưởng làm giàu nơi thanh niên, trong khi thực ra đáng lý cần cổ xúy tinh thần chuyên tâm học tập và cần cù lao động...).
Nguồn gốc thứ hai của tình trạng suy thoái đạo đức xã hội và hoài nghi xã hội chính là sự yếu kém của hệ thống luật pháp cũng như của bộ máy nhà nước. Bao lâu mà pháp luật chưa nghiêm (còn nhiều nhũng nhiễu và tham ô đến mức được gọi là quốc nạn) và chưa mang đầy đủ tính chất dân chủ và lý tính (còn nhiều bất hợp lý, mâu thuẫn...) thì sự suy thoái đạo đức trong xã hội và tình trạng mất niềm tin giữa con người với nhau trong xã hội là điều khó tránh khỏi.
Theo chúng tôi, sự tin cậy trong xã hội không phải xuất phát từ lòng tốt hay thiện ý của cá nhân, mà là xuất phát chủ yếu từ các định chế xã hội. Nói cách khác, sự tin cậy tồn tại trên nền tảng của các quy ước và các chuẩn mực xã hội. Trong xã hội cổ truyền, người ta tin nhau vì cùng là thành viên của một định chế xã hội nào đó, như làng xã, dòng tộc hay cộng đồng tôn giáo. Mỗi thành viên yên tâm rằng các thành viên khác sẽ cư xử với mình phù hợp với những quy tắc và chuẩn mực mà cả cộng đồng cùng chia sẻ. Phạm vi bán kính của sự tin cậy này nói chung là hẹp, đóng kín; các mối liên hệ xã hội thường là trực tiếp, mặt đối mặt. Trong xã hội hiện đại, ngoài những mối liên hệ trực tiếp trong gia đình hay giữa bạn bè thân thiết với nhau, người ta còn có những mối liên hệ giao tiếp rộng rãi hơn nhiều ở ngoài xã hội, và trong nhiều trường hợp còn mang tính chất vô danh tính. Những định chế trung giới (mediation) nối kết giữa cá nhân với xã hội không còn là những định chế cổ truyền (như làng xã hay dòng tộc), mà là những định chế xã hội đa dạng và phức tạp của xã hội hiện đại, trong đó đóng vai trò then chốt là những định chế chính trị và luật pháp.
Chức năng của các định chế không hẳn là thúc đẩy sự tin cậy mà trước hết là ngăn cản những kiểu hành vi cơ hội và thất hứa, thông qua các hình thức chế tài khác nhau, nhằm tạo điều kiện hình thành sự tin cậy lẫn nhau trong xã hội. Trong cuộc sống xã hội ngày nay, người ta không thể tin nhau nếu không có một hệ thống luật pháp ổn định và một bộ máy thực thi luật pháp hữu hiệu.
Chính vì lẽ đó mà có tác giả nói tới khái niệm “sự tin cậy được pháp điển hóa” (confiance juridicisée) xét như một sự tiến bộ của nền luật pháp hiện đại, khi mà, thông qua việc ký kết một hợp đồng, người ta có thể dự liệu được tương lai, lồng được tương lai vào trong một bản thỏa thuận dân sự(3). Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, có ghi rõ “nguyên tắc thiện chí, trung thực” như sau trong các mối quan hệ dân sự: “Các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào” (điều 6).
Trong môi trường kinh doanh chẳng hạn, chữ tín trong xã hội hiện đại cũng mang nội dung khác với chữ tín trong xã hội cổ truyền. Mặc dù các doanh nhân ngày nay vẫn thường tin nhau sau khi trải nghiệm về nhau, nhưng niềm tin này còn được xác lập chủ yếu dựa trên nền tảng luật pháp. Chính điều này làm cho các mối quan hệ giao dịch có thể khuếch trương mạnh và rộng hơn nhiều so với nền kinh doanh cổ truyền. Nhà kinh doanh có thể yên tâm ký kết hợp đồng với một nhà sản xuất ở một nước cách xa hàng ngàn cây số, dù có thể chưa quen biết thân thiết lắm, vì tin rằng nếu nhà sản xuất này không tôn trọng hợp đồng thì sẽ có thể viện đến sự can thiệp của luật pháp - nhờ những thỏa thuận về tư pháp đã ký kết giữa hai quốc gia. Trong trường hợp này, sự tin cậy đã có sẵn một khuôn khổ pháp lý để được bảo vệ.
Như vậy, nói tóm lại, để xác lập và nuôi dưỡng niềm tin giữa con người với nhau, đồng thời để chữa trị căn bệnh suy thoái đạo đức và tâm trạng hoài nghi trong xã hội, điều hiển nhiên là cần khôi phục một nền đạo đức dựa trên nguyên tắc tự trị của chủ thể luân lý, nghĩa là tôn trọng và đề cao lương tâm và tinh thần tự quản, tự quyết định của mỗi chủ thể, dựa trên sự tự do và lý tính của mỗi chủ thể luân lý. Mặt khác, cũng không kém phần quan trọng là phải xây dựng một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của từ này.
Một xã hội hiện đại không chỉ cần có những công dân tốt, mà còn kỳ vọng có những chủ thể luân lý thực sự tự do.
1) Bài phỏng vấn do Kiều Hải thực hiện, “Cần ý thức về sự thiêng liêng của hai chữ ‘con người’”, Sinh viên Việt Nam Online, 15-10-2008.
(2) Xem bài giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn, “’Phê phán lý tính thực hành’ và sự phản tư đạo đức học”, trong Immanuel Kant, Phê phán lý tính thực hành (Kritik der praktischen Vernunft) (Đạo đức học) (1788), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2007, trang XI-LX.
(3) Xem F. Terré, “Le doute et le droit : synthèse”, in Le doute et le droit, Ouvr. coll., Dalloz, 1994, tr. 7.
Trần Hữu Quang
Thời báo kinh tế Sài Gòn
Một nhà nước nếu không có pháp luật sẽ ra sao? Có lẽ ai trong chúng ta đều có thể trả lời và vì vậy pháp luật ban đầu có được chính từ nhu cầu tự nhiên của cuộc sống. Với tác phẩm Hàn Phi Tử, Hàn Phi được xem như là người sáng lập ra học thuyết Pháp trị đối nghịch với tư tưởng của Nho giáo khi cho rằng quản lý xã hội phải dùng Nhân trị và Đức trị, chính nhờ nó Tần Thủy Hoàng đã thống nhất các nước và lập ra chế độ quân chủ chuyên chế đầu tiên của Trung Quốc.
Một cách giản đơn, pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và thực hiện nhằm bảo đảm các quan hệ xã hội. Nhiệm vụ của luật pháp không phải để biến thế giới thành thiên đường mà nhiệm vụ chính là không để thế giới chúng ta trở thành địa ngục bằng những định chế nhằm khẳng định, bảo vệ hay thậm chí phát triển các quyền con người. Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả chúng ta điều tuân thủ nó, vì rõ ràng lợi ích cá nhân đã làm cho con người quên đi mình là chủ sở hữu của những nguyên tắc sống và là đồng sở hữu của những khế ước xã hội, những quy phạm luật pháp được lập ra vì con người nói chung và vì bản thân mình nói riêng.
Tất cả những điều trên dẫn đến sự cần thiết của việc am hiểu pháp luật của mỗi công dân để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quan hệ với những người xung quanh, cũng như bảo vệ bản thân trong những trường hợp mà người khác phá vỡ nguyên tắc để có được lợi ích cho bản thân họ.
Hằng ngày, có vô số vụ vi phạm pháp luật của cá nhân, cũng như của tập thể (công ty) xảy ra, đã, đang và tiếp tục sẽ làm tổn hại đến lợi ích của người khác và tiếc thay, vì không tường tận luật pháp, họ đã không thể tự bảo vệ mình một cách chính đáng. Điển hình một công ty vì tình hình khó khăn, đã sa thải một số nhân viên của mình bằng một cách rất không phù hợp. Họ đã bị chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức và bị buộc rời khỏi công ty ngay chiều hôm ấy như những kẻ đã vi phạm kỷ luật. Họ đã không được tôn trọng như những người đã từng đóng góp cho công ty ấy, hay hơn nữa là những người ra đi để công ty vượt qua được giai đoạn khó khăn. Đáng lẽ họ nên được trân trọng!
Theo bộ luật lao động:
Điều 38
1- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;
b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;
c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;
d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.
2- Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
3- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
a) ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
c) ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.
Thật ngây thơ khi chúng ta cho rằng tất cả mọi người đều hành động đúng đắn để có một thế giới tốt đẹp, công bằng và thiết nghĩ việc các nhân viên ấy nên nhờ sự can thiệp của nhà nước, ở đây là tòa án, là điều cần thiết nếu sự đền bù không thỏa đáng, chẳng hạn không có thêm một tháng lương cho việc dừng hợp đồng lao động ngay lập tức và tiền trợ cấp thất nghiệp trước 01/01/2009 cho thâm niên làm việc. Như vậy, điều này sẽ giúp cho công ty tôn trọng pháp luật hơn khi hành xử về sau, cũng như quyền lợi những nhân viên ở lại sẽ được “an toàn hơn” một cách chính đáng. Và hơn thế, đây xứng đáng là một bài học cho những ai trước giờ không quan tâm đến luật pháp, một công cụ hữu hiệu để bảo toàn lợi ích của chính mình, và cũng là một câu chuyện tự vấn cho những ai đang luồn lách kẽ hở của pháp luật, cho những ai đang lợi dụng sự vô tri về luật pháp của người khác để trục lợi.
Đánh cắp lợi ích của người khác, đặc biệt là những người mang cùng dòng máu quê hương là một việc đáng hổ thẹn! Và tiếc là ngày nay chúng ta lại được thấy ngày càng nhiều những việc như vậy.